Unknown

Sái Tuấn

Phần 4: Canh bà Mạnh

“Tỉnh lại trong một thành phố xa lạ

Nơi đầu môi vẫn lưu giữ lại tên em

Người yêu ơi

Anh đã rời xa em nghìn vạn dặm

Anh cũng biết

Mùa hoa tuổi 16 chỉ nở một lần.

Nhưng anh vẫn để tâm đến sự tinh khiết của tà váy

Vẫn để tâm đến tất cả những gì được ngợi khen

Tâm trạng được vỗ về nâng niu an ủi

Để tâm đến tấm lưới ảo mộng màu vàng kim kia

Giúp anh che chắn gió mưa nơi thành phố lạ

Tình yêu thì ra là một loại rượu

Uống vào rồi thì trở thành nhung nhớ

Và trong thành phố xa lạ này

Anh đêm đêm vẫn nâng chén

Hướng về năm tháng 16 tuổi đó.”

Tập Mộ Dung – “Mùa hoa tuổi 16”

Chương 1

Ngày cuối cùng của tháng 7 năm 2011, ngày nóng nhất năm nay.

Bảy giờ sáng, mặt trời vừa ló dạng đã thiêu đốt phố phường, gốc hòe già râm ran tiếng ve inh tai nhức óc. Hà Thanh Ảnh chuẩn bị sẵn cho con trai một chiếc sơ mi mới mua bằng tiền lãi bán sách. Cô tìm được chiếc áo này từ một cửa hàng trên trang web Taobao. Trước khi ra khỏi cửa, cô không quên vuốt lại cổ áo con cho thẳng thớm, hôm qua cô còn ép thằng bé cắt bớt mái tóc vẫn để từ hồi thi vào cấp 3. Cô nhét tất cả tiền học phí, tiền ký túc xá, phí nhập học, tổng cộng 2990 tệ vào cái ví mới mua của con, cẩn thận nhìn đi ngó lại một hồi, chỉ lo giữa đường rơi mất.

Thế nhưng cô cũng không đưa Tư Vọng tới tận trường mà chỉ tiễn con đến bến tàu điện ngầm mà thôi. Từ mẫu giáo cho đến tiểu học, rồi trung học cơ sở, mỗi lần khai giảng hay nhập học, cô đều đưa con đến trường, chỉ có lần này là ngoại lệ. Nửa tháng trước, Tư Vọng nhận được giấy báo trúng tuyển của trường cấp 3 Nam Minh.

Đêm qua cô đã nhắc con rằng đường Nam Minh đang thi công công trình đường ống khí gas, các tuyến xe bus vào khu trung tâm đều thay đổi, nên cách nhanh nhất là ngồi tàu điện ngầm. Hà Thanh Ảnh gọi với theo bóng con trai đang bước xuống bến tàu: “Vọng Nhi, buổi họp phụ huynh tới nhất, định mẹ sẽ đến.”

Cậu phải đổi chuyến một lần mới đến được bến xe gần trường nhất, sau đó phải đi bộ thêm mười mấy phút nữa mới tới nơi. Cậu sắp đến muộn mất rồi. Một chiếc xe con tạt vào, tài xế hạ kính xe xuống hỏi: “Này, học sinh mới trường cấp 3 Nam Minh phải không, mười tệ, giá chung rồi nhé.”

Thì ra là xe ngoài luồng chuyên chở bất hợp pháp, nhìn bốn phía không thấy bóng dáng chiếc taxi nào khác, cậu đành ngồi vào ghế sau, đặt tay lên chiếc ví tiền trong túi.

Xe vừa bắt đầu nổ máy thì có người kéo cửa xe – một cô gái mặc chiếc váy màu trắng. Tư Vọng ngồi dịch vào bên trái một chút, nhường ghế phía phải cho cô.

“Trường cấp 3 Nam Minh.” Giọng nói của cô rất nhẹ nhàng dễ nghe, cô còn quay sang xin lỗi Tư Vọng: “Xin lỗi em, tôi ngồi chung xe với em được không?”

Mãi không thốt ra được chữ “vâng”, bởi vì vừa nhìn rõ mặt cô gái… thì cậu nhận ra gương mặt ấy. Đó không còn là gương mặt của một thiếu nữ mà là một người phụ nữ hơn 30 tuổi. Chỉ có điều thời gian chưa hề để lại chút dấu vết nào trên khuôn mặt cô, mới nhìn, ai cũng sẽ lầm tưởng đây là một nữ sinh vừa tốt nghiệp đại học. Yêu tinh trong truyền thuyết thời cổ đại chẳng qua cũng chỉ đến thế mà thôi, thực sự là trẻ mãi không già, đi ngược tạo hóa.

Âu Dương Tiểu Chi.

Cô nhận ra cậu con trai 16 tuổi ấy.

“Em là học sinh mới đến nhập học phải không?”

Cậu ngốc nghếch gật đầu.

“Đừng lề mề nữa, muộn đến nơi rồi!”

Lái xe lộ rõ vẻ sốt ruột, không đợi khách trả lời đã nhấn ga, có lẽ anh ta sợ bến tàu điện là nơi lắm thị phi, không khéo có người đến cướp mất mối làm ăn, hoặc gặp phải cảnh sát thì khốn.

“Thật ngại quá!” Tiểu Chi lịch sự chào hỏi rồi nâng cổ tay lên xem chiếc đồng hồ mặt gốm sứ: “Vẫn còn bảy phút nữa, nhất định không đựơc muộn giờ nhé!”

Rồi cô bối rối cúi đầu, đôi má vốn trắng nhợt giờ bỗng đỏ ửng, lấp lánh vài giọt mồ hôi, có lẽ là vì vừa mới chạy một mạch ra khỏi bến tàu. Cậu thiếu niên tránh ánh mắt của cô, từ đầu đến cuối không nói một lời, ánh mắt quét qua tất cả những nơi khác trên xe, trừ chỗ của cô.

Năm phút sau, chiếc xe rẽ qua một ngõ nhỏ, dừng trước cổng trường cấp 3 Nam Minh.

Tiểu Chi lấy ngay mười tệ ra tranh trả tiền trước cho tài xế, cậu lẽo đẽo xuống theo sau, nói với cô câu đầu tiên của kiếp này:

“Này, em còn phải trả chị năm tệ!”

“Không cần đâu! Cảm ơn cậu đã cho tôi đi chung xe!”

Mới vào buổi sớm mùa hạ mà đường Nam Minh đã mịt mù khói bụi của công trường đang thi công, nụ cười của cô làm tan chảy trái tim nhỏ bé của biết bao cậu nam sinh.

May mà vẫn chưa muộn, học sinh tụ tập đông đúc trước cổng trường, tất cả đều được bố mẹ đưa tới, chỉ có một mình Tư Vọng lẻ loi. Những chiếc xe riêng liên tục tấp vào vệ đường, cả gia đình đưa con đi nhập học, các biển số xe đủ loại chen chúc chật cổng trường. Trên sân vận động đặt một tấm biển lớn hướng dẫn rõ ràng học sinh mới cần phải tới phòng nào đăng ký nhập học cùng với quy trình nộp lệ phí. Tiểu Chi bước qua rặng trúc đào trồng dọc theo sân vận động, nơi những bông hoa đỏ đang nở rực rỡ đến choáng ngợp.

Cô đi thẳng tới tòa giảng đường, khi ngang qua tấm gương trong góc hành lang, cô dừng lại chỉnh trang đầu tóc và trang phục. Hôm nay cô trang điểm nhẹ nhàng đơn giản, dù đang giữa mùa hè cũng không ăn mặc hở hang, cô mặc váy dài che ngang gối, đi một đôi giày đế bằng.

Tiểu Chi trông thấy cậu.

Cô hơi nghiêng người, khẽ nhướn mày ngài, vẻ mặt nghiêm túc lộ ra ánh mắt lạnh lùng. Cô từng gặp biết bao nam sinh theo đuổi hoặc ngắm nhìn mình, những lúc ấy cô luôn tỏ rõ thái độ khiến họ phải vừa nể sợ mà không dám tới gần.

Tư Vọng đứng yên ở hành lang trong giây lát, cho tới khi tiếng chuông tin nhắn từ điện thoại di động vang lên, thì ra là tin nhắn từ mẹ cậu, hỏi xem cậu có đến trường nhập học đúng giờ không? Cậu nhắn lại ngắn gọn: “Ổn cả mẹ ạ!” rồi xuống tầng dưới xếp hàng đăng ký nộp tiền.

Một tiếng đồng hồ sau, học sinh mới cùng các phụ huynh nườm nượp di chuyển về hướng đại sảnh để dự lễ khai giảng, Tư Vọng tụt lại rất xa phía sau dòng người. Cậu đi bộ giữa sân vận động, ánh mặt trời chói chang thiêu đốt, mồ hôi thấm ướt chiếc áo sơ mi mẹ mới mua cho cậu.

Cậu nhìn về thư viện trường phía xa, năm xưa nơi đây cũng chính là miếu thờ bài vị Sơn trang Liên Nghĩa.

“Hồn hãy về đi.”

Chương 2

Mặt trời độc.

Trên sân vận động, cái nóng gay gắt và tàn khốc chẳng khác gì trên sa mạc Sahara với nhiệt độ ít nhất cũng lên đến bốn mươi độ cùng từng đợt nóng hừng hực bao vây những cô cậu thiếu niên. Rất nhiều nữ sinh thi nhau kiếm cớ rời hàng, cũng có vài cậu học trò cá biệt vờ choáng váng ngất xỉu để được đưa đi. Chỉ còn Tư Vọng sừng sững đứng nghiêm dưới ánh nắng gay gắt, chăm chú nhìn thẳng vào viên sĩ quan huấn luyện. Làn da vốn trắng xanh giờ đã cháy nắng đen sạm, véo nhẹ một cái là có thể kéo bong hai lớp da. Đây cũng chính là nguyên nhân nỗi sợ hãi của các nữ sinh, dù em nào em nấy đều bôi kem chống nắng trên mặt cả rồi.

Đợt huấn luyện quân sự kéo dài liên tiếp mười ngày sẽ kết thúc trước khi mùa thu tới. Sĩ quan huấn luyện hết lời ca ngợi cậu là học sinh có ý chí ngoan cường nhất, với làn da đen nhuận rắn rỏi. Từ đó, chẳng có học sinh nào ở trường Nam Minh này dám bắt nạt cậu cả.

Trước khi bước vào năm học mới, các cô cậu học sinh mới đều vào ở trong ký túc xá. Cuối cùng Hà Thanh Ảnh cũng tới nơi, mang theo chăn gối cho con trai. Cậu chàng nhận được đồng phục mới, từ trên xuống dưới toàn một màu đen chững chạc, chốc chốc lại thu hút ánh nhìn của các nữ sinh. Mẹ cậu không ngừng than thở rằng sinh con ra mười sáu năm nay, giờ mới là lần đầu hai mẹ con phải xa nhau. Trong phòng ngủ người lớn còn nhiều hơn học sinh, họ đều đang sắp xếp giường chiếu và hành lý. Hà Thanh Ảnh dọn dẹp xong xuôi mới bịn rịn rời đi, không quên dặn dò con trai nhất định phải thường xuyên gọi điện về nhà.

“Mẹ, con đã lớn rồi, con biết tự chăm sóc bản thân mà.”

Tư Vọng thản nhiên hôn chụt một cái lên trán mẹ, chẳng thèm để tâm đến tiếng cười châm chọc của các bạn xung quanh.

Từ nhỏ đến lớn, đây là lần đầu tiên cậu ngủ qua đêm ở trường học. Tư Vọng không nói chuyện nhiều với các bạn cùng tuổi. Trường Nam Minh là trường nội trú nên ngoài giờ lên lớp, nhà trường cho phép học sinh sử dụng điện thoại di động để tiện liên lạc với gia đình. Chiếc điện thoại Samsung của Tư Vọng bị cậu bạn giường dưới cười nhạo, thời buổi này người ta toàn dùng Iphone, hai cậu trai giường đối diện đều mang theo Ipad, vùi đầu vào chơi game Hoa quả nổi giận[19].

Nếu chịu khó quan sát kỹ những thanh gỗ trên bệ cửa sổ phòng ngủ, sẽ phát hiện ra đủ loại vết khắc dày đặc nằm đó từ hơn hai mươi năm qua. Không chỉ chằng chịt những cái tên của không biết bao nhiêu người mà trên đó còn lưu giữ đủ các loại ký hiệu như ngôi sao hay đầu lâu. Ở một góc cực kỳ không nổi bật, vẫn vẹn nguyên năm chữ “Câu lạc bộ thơ Chết”.

Tiếng dế kêu thấp thoáng ngoài cửa sổ, cơn gió nhẹ thổi vào mang theo hương hoa trúc đào, khẽ khàng xua đi cái nóng oi bức. Cạnh ký túc xá là sân vận động tối tăm không một ánh đèn, Tư Vọng cố nhìn xoáy vào màn đêm, vẫn nhận ra từng hành lang của thư viện trường như cũ.

Căn gác nhỏ bỗng đột ngột sáng đèn.

Từ trên phòng ngủ tầng 4, Tư Vọng căng mắt ra nhìn, chỉ tiếc trong tay không có kính viễn vọng.

“Này bạn, ngủ sớm chút đi.”

Trước lúc tắt đèn, cậu bạn giường dưới vừa ngáp vừa nhắc nhở, một bạn cùng phòng khác lại gần, chẳng thèm hỏi han gì, cứ thế kéo kín rèm.

Tư Vọng đã nhoài người nằm bò trên bậu cửa sổ hơn hai tiếng đồng hồ, các bạn cùng phòng đều coi cậu là đồ quái dị. Đúng lúc này, Mã Lực ở xa tít tận Quảng Châu nhận được tin nhắn: “Tôi đã về trường cấp 3 Nam Minh, ngủ ở giường tầng trên trước kia cậu nằm.”

Sáng tinh mơ ngày hôm sau, Tư Vọng nhận được điện thoại của mẹ, Hà Thanh Ảnh hối hả hỏi han đủ thứ, chỉ lo con trai ăn không ngon ngủ không yên, cậu thì trả lời mẹ rằng mọi thứ đều ổn thỏa cả, còn hỏi ngược lại xem tối qua mẹ cậu ngủ thế nào. Mẹ cậu nói Vọng Nhi không có nhà, cả đêm cô không chợp mắt.

Ngày đầu tiên tới lớp.

Phòng học của khối lớp 10 nằm trên tầng 3 của tòa giảng đường màu trắng, trong lớp có 32 học sinh, 17 nam, 15 nữ. Tư Vọng cũng được xếp vào dạng cao nên được xếp ngồi bàn năm, cách bảng đen và bục giảng tới hơn mười mét, rất thích hợp để quay bài hoặc làm việc riêng. Bạn cùng bàn là một nam sinh rất hoạt bát, cứ nói chuyện luôn mồm. Bàn trên là hai nữ sinh, một cô bé để tóc ngắn, một cô buộc tóc đuôi ngựa, nhan sắc chỉ có thể xếp ở dạng thường thường bậc trung. Hai cô nàng rất niềm nở với Tư Vọng, nhưng người ta hỏi câu nào cậu trả lời câu ấy, chẳng hề có chút nhiệt tình chủ động chuyện trò nào. Thầy giáo hơn 40 tuổi bước vào lớp, mang theo một cặp giáo án vừa dày vừa nặng, mặc một chiếc áo sơ mi trắng là lượt phẳng phiu, trên túi áo trước ngực cài một cây bút vàng. Thầy giáo vẫn còn giữ được thân hình của thời trai trẻ, chỉ có mỗi tóc là đã thưa đi nhiều, ánh mắt sắc bén lướt qua lớp học, mỗi học sinh đều cảm nhận được sự tự tin và cao ngạo của thầy.

“Xin chào các em, tôi là chủ nhiệm lớp các em, tên tôi là Trương Minh Tùng.”

Thầy quay người viết tên lên bảng đen. Dù là thầy giáo dạy toán nhưng chữ viết bảng phấn của thầy cực kỳ đẹp. Học sinh bên dưới xôn xao, thì ra thầy giáo Trương rất nổi tiếng, từng lên rất nhiều chương trình dạy học trên truyền hình, là át chủ bài hàng đầu của trường cấp 3 Nam Minh.

“Đã hơn mười năm tôi không làm công tác chủ nhiệm lớp rồi, tháng trước lãnh đạo nhà trường có nài nỉ tôi chọn ra một lớp để đảm nhận công tác chủ nhiệm cho đến khi tốt nghiệp lớp 12. Sau khi chọn lựa kỹ càng, tôi quyết định sẽ phụ trách lớp B các em.” Không ngờ bên dưới có người vỗ tay ầm ầm, mấy con mọt sách kính cận dày cộp thấy lớp được thầy Trương Minh Tùng làm chủ nhiệm chẳng khác gì diễm phúc từ trên trời rơi xuống – y như không mất tiền mà mời được gia sư hàng đầu thành phố, cứ thế này thì chỉ còn chờ đến ngày đỗ vào trường đại học hàng đầu nữa là xong.

Trương Minh Tùng đã quá quen với các kiểu tán dương khen ngợi, không nói thêm một câu nào thừa thãi, vào thẳng tiết toán đầu tiên. Tiết toán từ trước tới giờ vốn khô khan nhàm chán, khiến cho rất nhiều nữ sinh nghe giảng mà như đàn gảy tai trâu, giờ đã khác hẳn. Tất cả học sinh đều tập trung chăm chú, dường như không có ai dám lơ là.

Hết giờ học, thầy giáo nhận được không ít tràng pháo tay, thầy nghiêm túc quét ánh mắt qua cả lớp, cho tới khi bắt gặp đôi mắt của Tư Vọng. Thầy hơi chau mày, tựa như bị ánh mắt của cậu thiếu niên ấy làm cho giật mình. Tiếng chuông báo hết tiết vui vẻ reo vang, thầy Trương Minh Tùng bước thẳng ra khỏi phòng học, không một lời chào hỏi.

Giờ ra chơi, Tư Vọng ngồi yên tại chỗ cho đến tận khi chuông báo vào lớp vang lên. Thầy Trương Minh Tùng đã chỉ định lớp trưởng – một cô bé béo đeo kính. Cô bé hô cả lớp đứng nghiêm: “Chào cô ạ”. Tiết này là giờ ngữ văn, giáo viên là Âu Dương Tiểu Chi.

“Chào các em!”

Cô cũng cúi người thật thấp để chào cả lớp, áo váy trắng tinh, tóc dài đen nhánh xõa ngang vai, đi đôi dép xăng-đan bước lên bục giảng, mỗi cử động, mỗi ánh mắt nụ cười đều rất thân thiết hiền hòa. Bên dưới có học trò để ý hai bàn tay cô, không thấy chiếc nhẫn nào cả.

Cô viết tên mình lên bảng đen. Cô nữ sinh bàn trên khẽ đọc rồi lập tức quay sang thì thào với bạn cùng bàn: “Oa, cô ấy cũng tên là Âu Dương Tiểu Chi kìa! Cậu đã đọc những cuốn sách đó chưa?”

Trong tiết học, nụ cười mỉm của cô khiến cho ánh mắt của tất cả cô cậu học trò đều không thể rời đi. “Các em có thể gọi cô là cô giáo Âu Dương, hoặc cô giáo Tiểu Chi – các em có biết tại sao tên cô lại là Tiểu Chi không? Đó là tên của một cây sáo đấy cả lớp ạ.” Động tác khẽ hất mái tóc xòa xuống vai về phía sau không hề làm cô mất đi vẻ trang nghiêm vốn có, “Rất hân hạnh được là giáo viên ngữ văn của các em, đây cũng là giờ đầu tiên cô dạy ở trường cấp 3 Nam Minh. Cô tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm thành phố, đã giảng dạy ngữ văn được mười hai năm rồi. Hai tháng trước cô thuyên chuyển công tác từ trung tâm thành phố đến đây – chậc, lộ hết bí mật tuổi tác mất rồi! ”

Những lời này của cô giáo làm cho không khí lớp học càng thêm thân mật, nữ sinh bàn trên lại thì thào to nhỏ: “Trời ạ, không thể nào mà nhìn ra tuổi của cô! Mình còn cứ tưởng cô mới hơn 20 tuổi cơ!”

Thế nhưng Âu Dương Tiểu Chi không hề nói cho các học sinh của mình biết rằng, cô cũng tốt nghiệp từ trường cấp 3 Nam Minh này.

“Nào, bây giờ xin mời các em mở bài đầu tiên “Thấm Viên Xuân – Trường Sa” của tác giả Mao Trạch Đông.”

Cô giáo bắt đầu đọc bài từ, giọng nói không còn mềm mại như trước nữa, thỉnh thoảng cô lại nhìn phản ứng của học sinh bên dưới bục giảng, tất nhiên, ánh mắt cũng quét qua gương mặt Tư Vọng. Không ai nhận ra rằng khóe miệng cô khẽ nhếch lên, cô tiếp tục đọc: “Những bạn học tuổi xuân, tài hoa đang nở rộ, hiên ngang khí phách, vùng vẫy tha hồ…”

Bốn mươi lăm phút sau, chuông báo hết tiết rung lên, Tiểu Chi dặn trước bài văn ngày hôm sau rồi lịch sự chào tạm biệt cả lớp. Buổi học đầu tiên có vẻ thành công rực rỡ, cô tràn ngập tự tin bước ra khỏi lớp học.

Tiểu Chi về văn phòng giáo viên, trong phòng đặt mười mấy chiếc bàn, cô có quan hệ rất tốt với các giáo viên khác, thường xuyên mời nhau những món đồ ăn vặt như ô mai chẳng hạn. Chiều tối, cô xách chiếc túi to màu nhạt bên trong đựng đầy sách vở tài liệu bước ra khỏi cổng trường, vừa hay đụng phải một cậu nam sinh, cậu bối rối lùi sang một bên.

“Chào em!”

Cô chủ động trò chuyện trước, gió thổi tóc cô bay bay, gương mặt càng thêm trong suốt.

Cậu nam sinh ấp úng mãi mới thốt ra được một câu: “Em chào cô ạ.”

“Cô nhớ ra em, học sinh mới đến nhập học ngày hôm đó, cũng là ngày đầu tiên cô đến nhập trường Nam Minh, chúng ta từng ngồi chung xe thì phải.”

“Dạ không có gì đâu cô.”

Giọng nói của cậu thấp đến mức đến chính mình còn không nghe rõ.

“Cô nhớ tên em trong danh sách học sinh mới – Tư Vọng phải không?”

“Vâng ạ.”

“Cảm ơn em nhé!”

Con đường trước mặt vẫn đang được xây dựng, xe ủi xúc không ngừng chạy qua, cô giáo một mình đi về phía bến tàu điện ngầm tít đằng xa. Bỗng dưng, Âu Dương Tiểu Chi quay đầu, không còn thấy bóng dáng cậu học sinh đâu nữa.

Chương 3

“Chị ấy đang ở Hong Kong ạ.”

Tư Vọng rót một tách trà nóng trong nhà bếp, xé bỏ vỏ hộp bánh trung thu.

“Thế mà nó chẳng cho ta biết gì cả.”

“Đó là vì chị ấy muốn tặng cô một niềm vui bất ngờ.”

“Đấy không phải là…” bà quay đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, đủ loại cây cối đang đâm chồi nảy lộc, khi đêm xuống, mùi thơm từ bốn phía xộc tới mũi, lời từ miệng nói ra cũng đượm hương, “…niềm vui bất ngờ đâu”.

“Cô đừng lo, hôm nay chị ấy còn gọi điện thoại cho cháu, nhờ cháu thay chị ấy tới thăm cô cơ mà.”

Bầu không khí đột nhiên trầm hẳn xuống, bà bưng tách trà lên nhấp một ngụm lớn: “Được rồi mà, cảm ơn cậu nhé, Tư Vọng.”

“Cô không ăn bánh trung thu à?”

Bà mở to khuôn miệng đã rụng sạch răng.

“Cháu xin lỗi!”

Cậu thiếu niên tự tát vào mặt mình một cái, rồi cắt từng miếng bánh trung thu ra, bưng nhân đến trước mặt bà cụ. Bà lão gần 90 tuổi cầm miếng bánh đưa vào miệng, nhắm mắt, mất một lúc lâu mới nuốt hết: “Cảm ơn cháu! Lần trước ăn bánh trung thu là tết Trung thu năm 1948.”

“Bao nhiêu năm nay Doãn Ngọc không ăn bánh trung thu cùng cô ư?”

“Bánh trung thu phải ăn cùng với người thân, mà chúng ta thì đều là cô nhi quả phụ, cháu không hiểu được đâu, cháu ạ.”

“Không đâu, cháu hiểu mà.”

Vẻ mặt cậu vô cùng nghiêm túc.

“Ngày mai là tết Trung thu rồi – sắp quên mất hương vị bánh trung thu ra sao mất rồi, có lẽ là rất khác so với thời của ta”. Ánh mắt cô Tào đượm vẻ mỏi mệt, không thể nào tưởng tượng ra nổi rằng sáu mươi năm trước đây chính là nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành khiến cho một người đàn ông phải bảo vệ đến tận cuối đời, “Nó đang ở Hong Kong thật sao?”

“Đúng thế ạ!”

Doãn Ngọc vẫn còn sống.

Ba tháng trước, khi Tư Vọng đến trước cổng trường cấp 3 Nam Minh, Doãn Ngọc vừa thi đại học xong đến chào tạm biệt cậu. Vừa hát xong bài “Tống biệt” của Lý Thúc Đồng, cô đã gặp tai nạn trên đường Nam Minh – nguyên nhân tai nạn là do chiếc xe đó đã cũ, phanh không ăn nên đâm vào Doãn Ngọc.

Cô bị thương nặng, phần đầu chảy máu không ngừng, được cấp cứu trong bệnh viện ba ngày ba đêm, cuối cùng cũng thoát khỏi nanh vuốt tử thần. Nhưng cô không tỉnh lại, các bác sĩ nói có thể cô sẽ trở thành người thực vật. Là thủ khoa ngành xã hội toàn thành phố, cô đã được trường Đại học Hong Kong gửi thư mời nhập học. Bố cô là nhà kinh doanh quốc tế, có một bệnh viện chuyên điều trị tổn thương não, hy vọng một ngày nào đó cô tỉnh lại để có thể vào trường đại học Hong Kong nhập học luôn.

“Nhưng mà, chuông điện thoại chưa bao giờ reo cháu ạ.”

Cô Tào chỉ vào điện thoại, Tư Vọng trả lời rất tự nhiên: “Cô không biết đấy thôi, trường đại học Hong Kong rất nghiêm, chị ấy học hành giỏi giang nên suốt ngày đóng cửa học bài trong phòng thôi.”

Tất nhiên là cậu đang nói dối.

Có những lúc lừa người già cũng giống như lừa con nít vậy.

“Thế à, chỉ cần nó thuận lợi yên ổn là tốt rồi.”

Cuối cùng cô Tào mới mỉm cười với cậu, cầm thêm một mẩu bánh trung thu, xem ra hôm nay bà rất có tâm trạng ăn uống.

“Cô yên tâm nhé, chị ấy không quên cô đâu ạ.”

“Haha, ta thì lại mong nó quên ta đi thì hơn! Như thế nó có thể làm một cô gái bình thường, không cần phải lo lắng cho bà già mãi chưa chịu chết này.”

Đôi bàn tay xù xì nhưng mềm mại của bà khẽ vuốt ve lòng bàn tay Tư Vọng: “Trời tối rồi, mẹ cháu đang đợi cháu về nhà đấy.”

“Cô Tào nhớ giữ gìn sức khỏe! Cháu sẽ thường xuyên đến thăm cô! Cần gì cô cứ gọi điện thoại cho cháu nhé!”

Rời khỏi căn nhà xinh xắn phủ đầy dây leo trong đêm đen, cậu nhấn pê đan xe đạp chầm chậm quay lại đường An Tức. Năm học 2011 vừa bắt đầu được một tuần thì đã đến kỳ nghỉ tết Trung thu, việc đầu tiên Tư Vọng làm khi rời trường chính là giấu mẹ lén chạy đi mua bánh trung thu.

Con đường An Tức vắng lặng yên ắng đến đáng sợ, ánh trăng tròn vành vạnh phiêu đãng giữa đám mây trắng hình đóa sen. Đèn đường u ám như thể cố ý kéo dài chiếc bóng của cả Tư Vọng lẫn chiếc xe đạp về phía đầu đường còn lại. Nơi Doãn Ngọc từng sống là một khu nhà kiểu cũ, trong các hòm thư vẫn nhét đầy báo mới và tờ bướm quảng cáo, chứng tỏ vẫn còn khá nhiều người đang cư ngụ ở nơi này. Lỗ thông gió ở chân tường lộ một nửa ra mặt đất, có cảm giác như đang bám chặt vào lề đường.

Tư Vọng trườn trên mặt đất, nhổ nước bọt ra lòng bàn tay rồi ra sức lau vào kính cửa lỗ thông gió phủ đầy bụi. Cậu rút trong túi ra một chiếc đèn pin, ánh sáng yếu ớt xuyên qua lớp bụi chiếu xuống đủ thứ đồ tạp nham trên mặt đất. Tư Vọng xoay người nhìn về bên kia đường – nơi những ngôi nhà cũ đang ngủ say trong đêm đen, ngôi nhà hung bị bỏ hoang từ năm 1983, chỉ cần cửa sổ dưới tầng 1 sáng đèn là chắc chắn có thể nhìn rõ quang cảnh bên trong, dù trong đó là người hay ma quỷ.

Dưới ánh trăng, Tư Vọng đứng dậy, hít một hơi thật sâu. Trên đường không một bóng xe qua lại, cũng tuyệt nhiên không một bóng người.

Một chiếc lá khe khẽ rơi xuống trước cánh cổng sắt của ngôi nhà số 19. Cậu khẽ chạm vào tấm sắt han gỉ sần sùi, rồi áp sát lỗ tai vào bản lề. Cậu nghe thấy, không chỉ tiếng bụi đất rơi xuống, mà còn cả âm thanh thấp thoáng, tựa như tiếng gió xuyên qua mái nhà, lại tựa như tiếng rắn trườn trên mặt đất.

Cậu nâng khớp ngón tay, gõ nhẹ vào cánh cửa ngôi nhà bỏ hoang hơn ba mươi năm đang say ngủ, từ bên trong chỉ vọng lại tiếng động nặng nề…

Không thể vào từ cửa chính, Tư Vọng lùi lại mấy bước, phát hiện ra bên phải là một khoảng sân nhỏ, tường bao khá thấp, từ bên trong vươn ra những tán dương liễu xum xuê. Tư Vọng vất vả lắm mới trèo qua được tường, buông hai chân chạm xuống giếng trời nhỏ hẹp đầy lá rụng, rác rưởi và phân mèo hoang. Mặt bên căn nhà có hai ô cửa sổ, mới nhìn có vẻ đóng rất chặt, nhưng thực ra kính đã vỡ nát. Cậu nhẹ nhàng mở một trong những cánh cửa đó ra, rọi chiếc đèn pin trên tay vào. Trong phòng toàn bụi bặm và rác rưởi, mặt đất bốc mùi thối rữa, người bình thường tưởng tượng thôi cũng đủ rợn tóc gáy – Tư Vọng đánh liều trèo vào trong.

Đèn pin rọi qua căn phòng trống rỗng, hầu hết vật dụng trong nhà đều đã biến mất, cái thì bị cảnh sát niêm phong làm vật chứng, cái thì bị kẻ cắp lẻn vào khuân đi. Trong phòng khách giờ chỉ còn sót lại mấy chiếc ghế trống trơn phủ mạng nhện dày đặc. Tư Vọng nín thở để tránh hít phải khí độc và bụi bẩn. Không thấy trên sàn nhà có vạch phấn trắng vẽ hình dáng người chết, điều đó chỉ xuất hiện trong phim điện ảnh Mỹ thôi. Nhưng trên tường có những ký hiệu và đường nét, đây mới chính là nơi người ta phát hiện ra thi thể.

Tư Vọng đứng trước cửa sổ phòng khách, nhặt một mẩu vải lên lau cửa kính. Từ đây có thể nhìn thấy con đường An Tức tắm mình trong ánh trăng, thậm chí thấy được cả cửa thông gió của căn nhà đối diện. Cậu đi một vòng quanh tầng 1 căn nhà rồi khẽ khàng bước lên cầu thang. Tiếng cót két dưới chân tựa như cảnh báo rằng chiếc cầu thang có thể sập tan tành bất cứ lúc nào.

Tầng trên được chia thành ba phòng, đầu tiên là nhà vệ sinh, bồn cầu bẩn thỉu đến mức buồn nôn, trên tường lát những viên gạch men to màu trắng, qua thời gian đã dần chuyển sang màu cà phê. Bồn tắm cũng y hệt, bẩn chẳng khác gì chuồng lợn.

Trong một căn phòng rộng rãi khác là chiếc giường lớn của người đã chết, nay chỉ còn sót lại bộ khung kim loại gỉ sét, vài con chuột chạy tán loạn dưới gầm giường, Tư Vọng bịt mũi quay ra, mở nốt cánh cửa phòng cuối cùng.

Trong phòng là một chiếc giường nhỏ, giát giường hầu như đã mục nát, gián tụ thành bầy xông qua hàng loạt. Trên tường treo một tấm gương, kính gương tráng bạc nằm trong khung gỗ hình bầu dục màu đen. Tư Vọng chậm rãi tiến đến trước tấm gương, chiếc đèn pin trong tay loang loáng chiếu ra một bóng dáng mơ hồ. Phản chiếu trong tấm gương phủ bụi mờ mịt là chàng thiếu niên Tư Vọng 16 tuổi đang không dám lau sạch tấm gương, bởi trong đó có lẽ có u hồn. Tư Vọng quay đầu lại, phía sau là một chiếc tủ cũ kỹ, ấy vậy mà bên vẫn trong còn vài món đồ chơi. Cậu nhặt lấy một món, phủi bớt bụi, hóa ra là mấy con búp bê bằng gỗ mà ngày xưa rất nhiều cô bé hay chơi. Con búp bê không mặc quần áo, chỏng chơ giữa thời gian và bụi bặm, giương đôi mắt to tròn sống động như thật. Tư Vọng đặt búp bê về vị trí cũ, chuẩn bị rời khỏi ngôi nhà hung. Bỗng nhiên đèn pin trong tay quét qua góc tường, lộ ra một lỗ thủng đen ngòm. Thì ra có người dùng tấm gỗ để ngụy trang cho lỗ thủng này, để mới nhìn ai cũng tưởng đây là tấm lát vách tường, rồi nhiều năm trôi qua, tấm gỗ mới bị ăn mòn, mục nát.

Cậu do dự trong chốc lát rồi thò tay vào trong. Tay cậu chạm vào một vật có dạng hộp vuông, lôi ra mới thấy đó là một hộp bánh bằng sắt đã han gỉ, nắp hộp hình tròn. Sau khi phủi sạch lớp bụi, chiếc hộp hiện ra đẹp đẽ lạ thường, bốn mặt là những hình vẽ thủ công đầy màu sắc cổ điển. Đó là tranh vẽ những người phụ nữ mặc quần áo thời xưa cùng với chữ viết tỉ mỉ cẩn thận. Hóa ra đây là bức “Kim Lăng thập nhị thoa” trong Hồng Lâu Mộng, các nhân vật trong tranh lần lượt là Tiết Bảo Thoa, Vương Hi Phượng, Lý Hoàn…

Ngày trước, rất nhiều gia đình lưu giữ trong nhà những chiếc hộp sắt như thế này để đựng bánh kẹo và đủ thứ đồ ăn vặt. Mỗi khi Tết đến xuân về lại có thể dễ dàng bắt gặp những chiếc hộp ấy, thường ngày vẫn cất ở một góc nào đó trong nhà.

Cậu lách móng tay vào khe hở giữa nắp và hộp rồi dùng hết sức mở nó ra, mùi nấm mốc xộc vào mũi tựa như mùi tro cốt của chủ nhân quá cố vậy. Cậu đánh liều thò tay vào trong, sờ thấy vài tấm ảnh, thì ra là Quan Vân Trường thời Tam Quốc, bên dưới nữa là hình Tam Anh đấu với Lã Bố, thì ra là thẻ bài thuốc lá – thứ mà chắc chắn lũ trẻ con bây giờ chưa từng nghe tới. Ngày trước mua mỗi hộp thuốc lá đều được tặng kèm một tấm thẻ cứng, mặt chính in hình phong cảnh hoặc nhân vật nào đó, mặt sau sẽ là chữ thuyết minh. Thực ra không nhất thiết phải mua thuốc lá mới kiếm được những tấm thẻ này, vì những sạp hàng bên đường cũng bán rất nhiều. Bọn con trai rất thích sưu tập những tấm thẻ này thành bộ, chẳng hạn như bộ 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc trong Thủy hử hay danh sách anh hùng trong Tùy Đường diễn nghĩa hoặc Dương gia tướng. Cách chơi phổ biến nhất là thổi bài, đặt hai tấm thẻ bài xuống mặt đất, dùng tay đập hoặc thổi hoặc đợi gió thổi tới, tốt nhất là làm thế nào để tấm thẻ lật ngược lại… Rõ ràng đây là căn phòng của một cô bé gái, năm xưa khi vụ án xảy ra, nhân chứng duy nhất cũng chính là cô con gái của người chết, ấy thế nhưng thẻ bài thuốc lá này lại là trò chơi của bé trai. Tư Vọng dốc ngược chiếc hộp để đồ bên trong rơi ra, vẫn còn một chiếc khánh hồ điệp, tuy đã đen sì nhưng vẫn có thể nhìn ra hình dạng trước kia, có lẽ là đồ dùng của một cô bé khoảng 12, 13 tuổi. Cuối cùng, trong hộp còn có một cuốn băng cassette. Năm 1983 cũng là lúc băng cassette bắt đầu lưu hành phổ biến.

Trên nhãn dán của cuộn băng vẫn còn dòng chữ thanh mảnh, Tư Vọng chà đi chà lại cho sạch bụi rồi soi đèn pin lên đọc:

01. Một mình lên lầu Tây; 02. Nguyện cùng người sống mãi; 03. Biết bao sầu; 04. Cỏ thơm vô tình; 05. Đêm thanh vắng; 06. Ai hiểu được tình tôi – băng nhạc “Tình u hoài” của Đặng Lệ Quân.

Thì ra là một băng nhạc của Đặng Lệ Quân, bản in chữ giản thể này rõ ràng là in lậu. Hồi đó cũng chẳng thể nào mua được bản gốc. Toàn bộ album “Tình u hoài” này đều được phổ nhạc dựa trên những bài từ cổ xưa, trong đó “Biết bao sầu” chính là bài “Giá như nước sông xuân chảy mãi về đông” của Nam Đường hậu chủ Lý Dực. Album tổng cộng có 12 bài, phía sau còn có 6 bài nữa, gồm cả “Lệ son hồng, khiến người say, bao giờ gặp lại, bởi đời này mối hận như nước chảy về đông” của Lý Hậu Chủ và “Năm ngoái đêm nguyên tiêu, chợ hoa đèn sáng rực, ngọn liễu mảnh trăng treo, hoàng hôn người hẹn ước” của Âu Dương Tu. Lật mặt B của băng thì thấy ngay 6 bài đó:

07. Lệ son hồng; 08. Tiếng lá xôn xao; 09. Hoàng hôn người hẹn ước; 10. Lệ ướt nhìn nhau; 11. Muốn nói lại thôi; 12. Nhớ chàng.

Trong lỗ hổng dưới chân tường, ngoài phân chuột ra thì chẳng còn thứ gì khác. Cậu đang thẫn thờ đứng mãi trong căn phòng ba mươi năm về trước từng thuộc về một cô bé, hai cánh mũi bị mùi ẩm mốc thối rữa bịt kín thì di động bỗng reo lên những hồi chuông chói tai. Là điện thoại Hà Thanh Ảnh gọi tới: “Vọng Nhi, sao con vẫn chưa về?”

“Dạ, mẹ ạ… Con về ngay đây ạ!”

Cậu nhét chiếc hộp sắt về vị trí cũ, cho dù nó có liên quan đến vụ án năm xưa hay không, thì cũng có thể khẳng định rằng, ngày đó cảnh sát chưa hề phát hiện ra bí mật trong hốc tường này. Tư Vọng nhanh như bay rời khỏi ngôi nhà hung, cậu không dám động đến cánh cửa lớn vẫn đang khóa im ỉm mà trèo qua bức tường bên hông nhà quay trở ra. Tư Vọng đạp xe về nhà, ánh trăng rọi xuống kéo dài chiếc bóng xám sau lưng cậu.

Chương 4

Cô bé nhỏ nhắn xinh tươi 16 tuổi, có gương mặt tựa búp bê bằng sứ, mái tóc đen huyền rủ xuống cùng đôi mắt long lanh đến mức bọn con trai phải lóa mắt không dám nhìn. Cô bé vừa mới thi đỗ vào một trường cấp 3 trong thành phố, đang nghe “Nguyện cùng người sống mãi” mà Đặng Lệ Quân hát trong điện thoại. Vẫn còn hai tiếng đồng hồ nữa, mặt trăng sắp lên đến giữa bầu trời rồi, cô cứ thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ khiến bố cô lo lắng không biết có phải cô đang bắt đầu mơ mộng tình yêu rồi hay không?

Chuông cửa kêu kính coong.

Bố đang ở trong bếp nấu ăn, cô bé chạy ra mở cửa thì thấy một thiếu niên lạ mặt trạc tuổi mình nhưng lại cao hơn đến hơn nửa cái đầu, gương mặt hơi ngượng nghịu đứng trước cửa nhìn cô bé.

Nhà họ Thân có con gái mới cập kê, giữ trong khuê phòng chưa ai gặp.

“Cậu là ai?”

Đây vốn là câu mà cô bé nên hỏi, ấy thế mà đã bị đối phương tranh mất, cô buột miệng trả lời: “Thân Mẫn.”

Cô lại cảnh giác lắc lắc đầu: “Xin lỗi, tôi có biết cậu không?”

“Tôi tới tìm bố cậu.”

“Đợi một chút!”

Thân Mẫn nhíu mày, nặng nề đóng sập cánh cửa rồi gọi bố. Cô cứ luôn cảm thấy mình từng thấy gương mặt này ở đâu đó rồi?

Người kiểm sát viên về hưu 61 tuổi, hai bên tóc mai đã điểm bạc, gương mặt thanh tú gầy guộc nhưng đôi mắt lại rực lửa, rất có thần.

“Cậu là…” Thân Viện Triều sững người đứng nơi bậu cửa, cẩn thận nhìn ngắm gương mặt ấy, “Con trai của cảnh sát Hoàng Hải?”

“Cháu chào bác, kiểm sát Thân, bố cháu là cảnh sát Hoàng Hải, trước đây chúng ta đã từng gặp nhau rồi, cháu tên là Lượng ạ.”

“Lượng, mau vào nhà đi!”

Chàng thiếu niên rất lễ độ gật đầu rồi bước vào nhà, trong tay còn xách một hộp bánh trung thu: “Chúc bác tết Trung thu vui vẻ ạ!”

Viên kiểm sát về hưu Thân Viện Triều ban đầu từ chối cho có lệ, thế nhưng đối phương chỉ là một học sinh trung học, nên ông cũng nhận lấy. Thân Mẫn ngoan ngoãn lui xuống bếp rót một tách trà nóng bưng lên, Thân Viện Triều hỏi Lượng: “Con trai, có muốn uống nước ngọt không?”

“Dạ không ạ.”

“Chuyện của bố cháu, năm ngoái bác đã nghe nói rồi. Bố cháu đã hy sinh trong lúc truy bắt kẻ sát hại con trai bác. Bác thật xấu hổ, trước kia cứ luôn đến nhà cháu gây sự vô lý, lại còn tranh cãi với bố cháu. Nhưng bác vẫn nhớ lời bố cháu nói. Ông ấy bảo rằng chắc chắn sẽ bắt được hung thủ, trừ phi ông ấy chết! Ông ấy thật sự là một cảnh sát ưu tú! Bác đã trách lầm ông ấy rồi, thực ra bác cũng rất muốn đến đưa ông ấy đến nơi an nghỉ cuối cùng.”

“Không sao đâu ạ, khi còn sống, vụ án duy nhất bố cháu chưa phá được chính là vụ án mạng năm 1995 trên đường Nam Minh, và cả những vụ án giết người dã man được cho là do cùng một hung thủ gây ra trong khoảng thời gian đó. Bố cháu từng căn dặn cháu rằng, sau này lỡ như ông có mất đi, cháu cũng phải kế thừa di nguyện của ông, dù thế nào đi chăng nữa cũng phải phá được vụ án này, phải thường xuyên liên lạc với bác, nếu bác có gặp khó khăn gì, cháu có nghĩa vụ phải giúp đỡ bác ạ.”

“Ôi, không ngờ cảnh sát Hoàng Hải lại là một người tốt đến thế, nhưng mà, cháu vẫn còn đang học cấp 3, chỉ e cháu không giúp nổi bác đâu.”

“Không sao đâu ạ, cháu sẽ thi vào trường cảnh sát, sau này sẽ trở thành một cảnh sát bác ạ”

“Hiếm có chàng trai nào đầy tinh thần trách nhiệm như cháu lắm, quả là hổ phụ sinh hổ tử, ba năm không gặp đã lớn lên trở thành anh chàng đẹp trai rồi. Nếu như Thân Minh con trai bác còn sống thì năm nay cũng phải hơn 40 tuổi rồi.”

Trong căn phòng treo di ảnh Thân Minh và người vợ quá cố của Thân Viện Triều, bên dưới có một bức trướng nhỏ và hai chiếc bánh trung thu thơm ngon mới tinh tươm, chắc chắn là hôm nay vừa mới đặt lên.

“Cháu có thể thắp một nén nhang không ạ?” Cậu thiếu niên lặng lẽ đứng lên, “Cháu muốn thay mặt người bố quá cố của cháu.”

Khóe mắt Thân Viện Triều ầng ậc nước, ông xúc động lấy ra ba nén nhang: “Tiểu Mẫn, mau châm nhang giúp cậu ấy đi.”

Cô thiếu nữ nhìn cậu bằng ánh mắt hoài nghi tựa như đang nhìn một người bệnh tâm thần, nhưng cô là một cô bé rất nghe lời bố. Cậu thiếu niên cúi mình ba lần trước hai tấm di ảnh rồi cắm nén nhang lên bàn thờ.

Cậu thiếu niên quay đầu lại tựa như u hồn, u oán nhìn vào mắt Thân Viện Triều.

Từ đáy mắt viên kiểm sát già xẹt qua một tia kinh ngạc, ông vô thức lùi lại một bước, nhíu mày: “Con trai, cháu…”

“Bác Thân, nếu bác có manh mối mới nào, xin hãy cho cháu biết.” Cậu đưa số điện thoại di động cho Thân Viện Triều, “Cháu nhất định sẽ giúp bác bắt được hung thủ.”

“Không cần đâu”, ông Thân vẫn chưa mất hết tỉnh táo, “Cháu còn quá nhỏ, những chuyện như bắt hung thủ hãy để cho người lớn làm đi.”

“Cháu đợi điện thoại của bác!”

Cậu thiếu niên lạnh lùng dặn lại một câu rồi liếc nhìn Thân Mẫn một cái, cô đang co mình sau chiếc ghế bành, gương mặt ngượng nghịu ửng hồng.

“Tạm biệt!”

Chút dư quang trong mắt cậu lưu lại trên gương mặt cô thiếu nữ, cậu tự giác rời khỏi phòng khách, nhanh chóng thay giày rồi mở cửa ra về.

Tư Vọng quay trở lại với ánh chiều tà, đạp xe trở về.

Cậu đạp xe băng qua con ngõ cũ kỹ bẩn thỉu trước căn nhà, nơi hai bên đường có tiệm cắt tóc của những cô nàng phấn son dày cộm, cả những quán ăn vặt và tiệm cơm hộp đầy dầu mỡ. Từ khi Tư Vọng được sinh ra tới nay đã mười mấy năm, những cảnh tượng này hầu như đã bị những tòa cao ốc xung quanh che lấp đi hết cả, nơi này dần trở thành khu ổ chuột cho người nghèo. Những ngôi nhà lung lay như sắp đổ, lại có không ít những công trình kiến trúc phô trương một cách tự ti, rõ ràng chỉ là hai tầng lầu, lại cố xây thành tòa nhà bốn năm tầng. Những cư dân cũ hầu hết đã chuyển ra ngoại thành sống, để lại nhà riêng nơi đây cho những người làm công từ nơi khác đến thuê, thường thường sẽ có năm, sáu người chen chúc ngủ chung trong một căn hộ như thế. Từ khi cảnh sát Hoàng Hải qua đời, mỗi đêm Hà Thanh Ảnh đều vô cùng lo lắng, dặn con trai nếu không có việc gì thì tuyệt đối đừng ra ngoài, quanh đây lúc nào cũng thấy có lưu manh gây gổ đánh nhau, kể cả có gọi 110 cũng vô ích.

Mẹ của Tư Vọng đã dọn sẵn bàn ăn từ lúc nào, cô cằn nhằn mãi vì cậu về muộn. Hà Thanh Ảnh 41 tuổi đã hết thời xuân sắc mặn mà, giờ đi trên đường cũng chẳng có ai ngoái đầu nhìn lại như xưa nữa.

Tết Trung thu, tâm trạng của cô không được tốt lắm, cô bất an nhìn ra cây hòe già ngoài cửa sổ, con trai sán lại gần cô tỉ tê: “Mẹ ơi, mẹ có chuyện gì, kể cho con nghe đi.”

“Con có thấy thông báo dán ở đầu ngõ không? Khu nhà ta sắp bị giải tỏa rồi, không biết họ sẽ chia cho mấy đồng nữa? Hàng xóm láng giềng đều bảo sắp xảy ra chuyện lớn rồi, mẹ cũng không biết phải làm sao nữa?”

“Con không muốn chuyển nhà.”

“Con à, con sinh ra ở đây, sớm đã quen thuộc với ngôi nhà này rồi, nhưng mẹ luôn cảm thấy có lỗi với con vì đã không để cho con sống trong một căn nhà tốt hơn. Chỉ khi con sống cùng nhà họ Cốc mới có được vài ngày tốt đẹp. ”

Cô nói mà khóe mắt đỏ hồng, Tư Vọng ôm chặt lấy mẹ: “Mẹ, mẹ đừng nhắc đến nhà họ Cốc nữa!”

Ngoài cửa sổ, ánh trăng trong trẻo tới nhức mắt.

Chương 5

Tiểu Chi,

Đọc chữ cũng như gặp người.

Anh chưa từng kể với em về cái lần gặp ma ngày ấy.

Ở gần trường cấp 3 Nam Minh có một nhà máy sản xuất gang thép đã phá sản, em cũng biết cạnh đó có một bãi đất hoang phải không. Năm 1988, anh vẫn còn đang học lớp 12, vẫn hay cùng bạn học đến đó đá bóng, mỗi lần đá bóng bay qua tường nhà máy là anh lại phải trèo sang nhặt. Có hôm đá bóng rất muộn, khi anh trèo qua tường, quay đầu nhìn lại đã thấy mọi người chạy hết sạch rồi. Trời mùa đông tối rất nhanh, gió rít dữ dội, trước mắt anh là nhà máy vắng tanh không một bóng người, chỉ có nhà xưởng ở khu Ma nữ ấy và đám dây leo mọc hoang khô úa mà thôi. Người ta đồn rằng, những lúc thế này dễ gặp ma nhất.

Quả nhiên, anh đã gặp cô ấy.

Cô ấy bước ra từ bụi cỏ hoang, mặc một chiếc sường xám mỏng manh, chẳng hề sợ tiết trời giá lạnh, kiểu tóc của cô ấy giống y như trong những bộ phim chúng ta thường xem. Cô ấy dùng ánh mắt kỳ quái nhìn chằm chằm vào anh. Năm đó anh mới 17 tuổi, ấy thế mà cô ấy cũng chủ động nói chuyện với anh cơ đấy. Giọng cô ấy nhỏ nhẹ cất lên khẩu âm Quảng Đông. Anh cũng không nhớ rõ đã nói những chuyện gì, nhưng cảm giác khi đó không phải là sợ hãi. Anh theo cô ấy tản bộ giữa vô vàn hoang phế lạnh lẽo, ngắm màn đêm chầm chậm buông để nâng vành trăng khuyết lên đỉnh ống khói vỡ nát. Anh nhìn thấy nỗi u sầu bi thương nơi đáy mắt cô ấy, anh nghe cô ấy kể những câu chuyện hay ho từ hồi xửa hồi xưa, còn cả cuộc đời ngắn ngủi của cô ấy nữa. Gương mặt mãi mãi ngưng đọng ở tuổi 25 của cô gái dừng lại giữa khoảng đất hoang vu, không bao giờ biến đổi hay tổn thương nữa.

Thời gian dần hóa thành những lớp bụi phủ dày, cô ấy vẫn như xưa diễm lệ xinh tươi, được chôn vùi dưới những lớp đất sâu. Anh của thời niên thiếu ấy cứ đứng mãi dưới trăng lạnh, ôm một quả bóng đá trong lòng, cỏ dại nằm bên đang ca hát còn gió thì cứ mãi lay động ánh mắt sáng trong.

Cô ấy cười với anh một cái, nhưng chẳng hề dẫn anh theo cùng.

Cho nên anh lại được giống như những người khác, chầm chậm lớn lên, vào đại học, ra xã hội, không thay đổi được thế giới, ngược lại còn bị thế giới cải tạo, trở thành một người mà cô ấy không thể nhận ra được nữa.

Khi ấy, anh đã già mất rồi.

Cô ấy sinh năm 1910, mất ngày 8 tháng 3 năm 1935, sau khi chết được chôn ở nghĩa trang người Quảng Đông. Sau này nghĩa trang bị san phẳng để xây nhà máy xí nghiệp, xương cốt của cô ấy cứ thế lẫn vào khu Ma nữ ấy. Anh cũng sẽ giống như cô ấy, chết ở tuổi 25, có phải không?

Thầy Minh của em

Ngày 8 tháng 3 năm 1995

Năm 2011, mùa thu, Tiểu Chi quay lại trường cấp 3 Nam Minh, trở thành giáo viên dạy ngữ văn.

Cô ngồi một mình trong góc thư viện, mở lá thư đã được giữ gìn mười sáu năm, trên trang giấy ố vàng là những hàng chữ ngay ngắn đẹp đẽ của Thân Minh.

Phải đến ngày học cuối cùng trước kỳ nghỉ lễ Quốc khánh mùng 1 tháng 10 dài ngày, Âu Dương Tiểu Chi mới bước vào thư viện. Năm xưa không biết cô đã từng đến đây bao nhiêu lần, dù có sự tồn tại của căn gác nhỏ trong truyền thuyết thì đây vẫn là nơi cô thích nhất. Năm xưa không có mạng Internet, sách giáo khoa hoàn toàn không thể đáp ứng được nhu cầu học tập và tìm kiếm tri thức của các em, mỗi cuốn sách ở đây đều vô cùng quý giá. Cô thường ngồi trong phòng đọc hai tiếng đồng hồ, có lúc còn quên cả ăn bữa tối…

Giờ đây, thư viện đã được sửa sang lại, phòng đọc sách vẫn ở chỗ cũ, bàn ghế được thay mới hoàn toàn, sách sưu tầm đã tăng lên đáng kể, nhưng vẫn còn đó những cuốn sách cũ từ hơn mười năm trước. Cô loanh quanh thật lâu trước những giá sách xưa, mãi mới tìm thấy cuốn “Sự hưng vong của đế quốc thứ ba”, trên bìa sách màu nước biển in hình Hitler. Tấm thẻ mượn sách đã ố vàng được gài vào trang cuối cùng của cuốn sách, giữa những cái tên viết chi chít bên trên lấp ló hai chữ “Thân Minh”. Cô đặt tấm thẻ mượn sách lên môi, dường như đang hít hà hương thơm từ kiếp trước. Cuốn sách này đã được biết bao nhiêu người mượn, ấy vậy mà chẳng ai phát hiện ra một bí mật, rằng trên mặt sau tấm thẻ mượn sách dày dặn kia, có người đã dùng bút chì phác họa ra gương mặt của cô.

Tại sao lại chọn “Sự hưng vong của đế quốc thứ ba”? Bởi vì, làm gì có cô gái nào đọc loại sách như thế cơ chứ?

Một điều bất ngờ là, năm 1995, trong một bộ phim được công chiếu tại Nhật Bản cũng có một tình tiết tương tự như vậy.

Bỗng nhiên, trong thư viện có thêm một người, Âu Dương Tiểu Chi cất bức thư năm xưa đi, nhét cuốn “Sự hưng vong của đế quốc thứ ba” về giá sách y như cũ. Cô nấp sau giá sách, quan sát người vừa đến từ phía sau những cuốn sách. Lại là cậu ta?

Cậu học sinh mới tên Tư Vọng này cực kỳ thông thuộc đi qua đi lại trong phòng đọc sách, ngón tay lướt qua từng hàng từng hàng sách, tựa hồ lướt qua trước mắt cô. Ngón tay cậu dừng trên gáy của một cuốn sách, chính là “Sự hưng vong của đế quốc thứ ba”. Tư Vọng quyết đoán rút cuốn sách ra, lật thẳng tới trang cuối cùng, lấy ra tấm thẻ mượn sách, rồi cũng đặt mặt sau của tấm thẻ ấy lên môi.

Không thể nào, cậu ta không thể nào nhìn thấy động tác vừa rồi của Âu Dương Tiểu Chi được.

Rất lâu sau, Tư Vọng đặt cuốn sách về chỗ cũ, ngẩng đầu lên liếc qua căn gác nhỏ rồi rời khỏi thư viện. Lúc này Tiểu Chi mới dám thở phào nhẹ nhõm, cô đứng khuất sau khung cửa sổ tầng 2, dõi theo bóng cậu trên sân vận động.

Nửa tiếng sau, Âu Dương Tiểu Chi trở lại phòng giáo viên, trong văn phòng không có thầy cô nào khác, có người vẫn đang ăn cơm ở nhà ăn, có người đã về nhà trước. Trên bàn chất đầy những bài tập ngữ văn sáng nay cô vừa thu, trên màn hình chờ là bức ảnh Fuji Itsuki, nhân vật nam chính trong bộ phim “Thư tình”. Cô bỗng thấy mệt mỏi, toan ngồi xuống ghế nhắm mắt dưỡng thần thì tay bỗng đụng phải chuột trên bàn, tắt đi cảnh trên màn hình chờ. Lúc này cô mới phát hiện bên dưới con chuột có một tờ giấy, bên trên là mấy câu thơ, được viết bởi bút tích của ai đó.

Đâu khi tiêu thổi dưới hoa

Tường hồng lặng ngắm ngân hà trên cao

Sao kia đã chẳng đêm nào

Vì ai vẫn đứng nghẹn ngào gió sương

Mỏi mòn kiệt sức tơ vương

Lòng đau thân chuối canh trường càng trơ.

Tháng năm vò võ thoi đưa

Thương thay chén rượu mãi chưa cạn sầu.

Là bài thơ số 14 trong chùm “Mười sáu bài Ỷ hoài” của nhà thơ đời Thanh Hoàng Trọng Tắc. Cô không những nhớ bài thơ này, mà còn nhớ rất rõ nét chữ này, từng nét từng nét đều chưa từng thay đổi… Âu Dương Tiểu Chi ngồi sụp xuống ghế, ôm chặt lấy trái tim mình, rút từ trong túi ra lá thư cũ kỹ đó, so sánh những nét mực còn chưa ráo này với bút tích đích thân Thân Minh viết năm xưa… dường như chắc chắn rằng chúng là do một người viết!

Cô vô thức vươn tay về phía cốc trà, lại lập cập làm đổ cái cốc, nước trà hoa hồng lênh láng khắp mặt bàn. Cô vội vã luống cuống thu dọn, dùng hết cả hộp giấy ăn mới lau sạch, tờ giấy kia đã ướt đẫm nước, liệu có bị nhòe mực hay không? Cô thương tiếc đặt lá thư viết bài thơ của Hoàng Trọng Tắc lên bậu cửa sổ, đặt chặn cái chặn giấy lên đợi hong cho khô.

Tiểu Chi lao ra khỏi phòng, mịt mờ nhìn xung quanh, trên hành lang dần đông người đi lại, ai cũng có thể bước vào văn phòng, ai cũng có thể là nơi ký thác vong hồn của Thân Minh.

Cuối cùng, cô đưa mắt nhìn thẳng lên sân thượng của tòa nhà tổng hợp, từ đây có thể nhìn rõ văn phòng của cô.

Dường như ở nơi đó có ánh sao sớm lưu lạc từ đêm qua, bởi vì ai mà sừng sững cản giông ngăn bão.

Chương 6

Giữa thu, lá rơi đầy sân vườn trên đường An Tức, hiếm hoi lắm mới thấy cô Tào quên không tưới nước cho cây cối trong bồn. Tư Vọng 16 tuổi đúng hẹn lại tới, mang theo vài món mà người già thích ăn. Mấy tháng nay bà cụ và cậu thanh niên trẻ này đã trở thành bạn vong niên, hầu như cuối tuần nào cũng gặp mặt, lần trước bà còn hỏi thẳng cậu: “Cháu cũng là người như nó ư?”

Bà từ trước tới nay chưa bao giờ gọi tên Doãn Ngọc, cậu hoài nghi “nó” trong lời của bà không phải là con gái, mà là con trai.

“Dạ?”

“Kiếp trước cháu là ai?”

“Cháu chỉ là một người bình thường, sống đến năm 25 tuổi thôi cô ạ, không được oanh liệt như cô nên cháu rất ngưỡng mộ cô, cô Tào ạ.”

“Hai lăm tuổi?” Đôi môi nhăn nheo của bà run run, bà vẫy tay, “Con à, lại đây với bà.”

Tư Vọng tựa như đứa cháu bé nhỏ nằm yên trong lòng bà, nghe tiếng tim đập chậm rãi mà nặng nề của bà.

“Ta từng kết hôn, nhưng không sinh được con. Hồi còn kháng chiến, vì khổ sở chạy loạn mà sảy thai.” Bà khe khẽ vuốt tóc cậu, “Ta rất muốn có một đứa con, nhưng lại không thể, sau này chồng của ta đến Đài Loan, trở thành một nhân vật lớn, rồi ở lại đó kết hôn sinh con. Những năm 80 của thế kỷ 20, ông ấy quay về Đại Lục gặp ta một lần, từ đó không còn liên lạc gì nữa. Sau này ta đọc báo mới biết tin ông ấy qua đời. Ta tận mắt nhìn thấy vô số những kẻ giết người và những người bị giết, cháu mãi mãi không báo được hết thù của mình đâu, cháu hiểu không?”

“Nhưng mà…”

“Khổng Tử nói, chuyện xưa cứ chảy trôi, đêm ngày mãi không ngừng!” Bà cụ nói xong câu này rồi nhắm mắt lại ngủ.

Lúc này, Tư Vọng bước vào phòng đọc sách của cô Tào, phát hiện ra sắc mặt bà cực kỳ xấu, cả người lả đi trên chiếc ghế dài, gương mặt tái mét không còn chút máu. Bà vươn cánh tay khô héo như người chết ra, mấp máy vài chữ từ trong cổ họng: “Nó… nó… chẳng phải là… đã… chết… rồi… ư…”

“Ai ạ? Không, chị ấy đang sống rất tốt ở Hong Kong, cô đừng nghĩ lung tung mà!”

“Cháu đang lừa ta!”

“Cháu không lừa cô, cháu và chị ấy vẫn thường xuyên gửi thư cho nhau mà. ”

“Đêm qua ta đã nằm mơ thấy nó.”

Lại là thác mộng? Lẽ nào Doãn Ngọc thực sự đã chết ở Hong Kong rồi hay sao?

Cô Tào đau đớn tiếp tục nói: “Nó bảo với ta rằng nó đã chết rồi.”

Nước mắt nóng hổi vương đầy trên mặt, Tư Vọng hoang mang vội vã tìm khăn tay, nhưng dù có lau thế nào cũng không hết lệ. Cậu đành đứng trơ mắt nhìn bà cụ khóc đến bi thương, nước mắt ướt đẫm gương mặt già nua. “Từng qua biển lớn, không gì nước, Chưa đến Vu Sơn, chẳng biết mây.” Bà cụ khó nhọc cất giọng ngâm hai câu thơ ấy, dường như trút ra hết hơi thở cuối cùng của sinh mệnh. Cậu thiếu niên trầm mặc, thầm đọc hai câu tiếp theo: “Lần lữa khóm hoa lười để ý, Nửa duyên tu đạo, nửa người đây!”

Một tuần sau, cậu lại đến đường An Tức thăm cô Tào, nhưng cửa lớn đóng chặt, từ khe hở trên cánh cổng nhìn vào chỉ thấy lá rơi ngập vườn. Cậu hỏi thăm nhà hàng xóm mới biết, bảy ngày trước bà cụ đã qua đời, chính vào buổi tối sau khi cậu rời đi. Tư Vọng quỳ sụp xuống bậc thang bằng đá, dập đầu ba lạy.

Mặt đầm đìa nước mắt, cậu ngồi lên xe đạp, đi tới phía bên kia đường An Tức. Trong căn nhà ba tầng cũ kỹ được xây từ những năm 80 của thế kỷ 20 từng có một ông cụ bí ẩn sinh sống, ông cũng chính là người đã trải qua biết bao nhiêu sóng gió đổi thay của thời đại này. Mấy ngày trước, Tư Vọng đến gặp cảnh sát Diệp Tiêu để thăm dò thân phận thực sự của ông cụ sống trong ngôi nhà đó.

“Người cuối cùng ở Trung Quốc theo chủ nghĩa Trostky[20].” Diệp Tiêu để ý thấy cảm xúc trên gương mặt Tư Vọng hơi thay đổi, “Cháu hỏi ông ấy làm gì?”

“Chỉ mỗi ông ấy từng gặp cậu thiếu niên Thân Minh.”

“Nhưng ông ấy đã qua đời từ năm 1992 rồi, hưởng thọ 92 tuổi.”

“Cháu biết, ông ấy là người bạn duy nhất của cháu.”

Chương 7

Năm 2011, đêm Giáng Sinh, ngày thứ bảy.

Mã Lực đứng trên ban công tầng 20, dùng kính viễn vọng nhìn xuống dưới đường. Không khí khắp nơi đều nhộn nhịp, lấp lánh ánh đèn đủ sắc màu của cây thông Noel, những cặp tình nhân 9x trẻ trung vai kề vai đi lướt qua. Anh chú ý đến một anh chàng kỳ quặc mặc áo khoác, đội mũ len đứng một mình, tựa như sát thủ chuyên nghiệp được cử tới tòa chung cư của anh.

Chuông cửa reo vang, anh quay vào nhà kiểm tra hệ thống camera, quả nhiên là người bí ẩn đó. Cách đó hai mươi tầng lầu, đối phương bỏ chiếc mũ sùm sụp ra, để lộ gương mặt 16 tuổi.

“Là cậu à?”

“Mã Lực, tôi là Thân Minh.”

Kẻ dưới lầu chính là cậu thiếu niên có tên Tư Vọng.

“Sao lại tìm được đến đây?”

“Tôi có số điện thoại và biển số xe của cậu, tìm ra cậu rất dễ mà.”

“Cậu biết tôi ở nhà sao?”

“Cảm giác!”

Mã Lực bất đắc dĩ mở cửa, đã nhiều ngày anh không ra ngoài nên chỉ mặc quần áo ở nhà, râu chưa kịp cạo đã lan khắp cằm, tóc đã sớm xuất hiện vài sợi bạc. Dù vậy, anh vẫn là hình mẫu “ông chú” được các cô bé điên cuồng hâm mộ, chỉ cần một chuyến vui chơi ở Karaoke Holiday là y như rằng sẽ xin được số điện thoại của hàng tá các cô gái trẻ.

Nửa phút sau, Tư Vọng bước vào nhà anh.

“Merry christmas!”

Cậu thiếu niên nói một câu tiếng Anh lưu loát.

Mã Lực mơ màng gật đầu, anh loay hoay một hồi ở tủ giày rồi mới quẳng cho Tư Vọng một đôi dép lông đi trong nhà. Tư Vọng để ý thấy trong nhà có cả giày của trẻ con: “Cậu kết hôn rồi sao?”

“Ly hôn rồi.”

Anh thản nhiên trả lời tựa như kể chuyện chẳng liên quan rồi đi vào phòng khách rộng rãi, dưới chân là sàn gỗ sáng bóng, tủ rượu bày đầy những đồ sứ Thanh Hoa đắt tiền, ghế sofa cũng làm bằng da thật.

“Con cậu mấy tuổi?”

“Bốn tuổi.” Anh chìa ảnh con từ trong điện thoại ra, “Con gái, theo mẹ rồi, đang ở Quảng Châu.”

“Cậu nhớ nó không?”

“Quen rồi, mỗi tháng con bé về một lần, chỉ có điều hơi xa lạ.” Mã Lực rót sữa cho cậu, “Sao tối nay lại muốn tìm tôi?”

“Có hai nguyên nhân: Thứ nhất: Tôi đã về đến trường cấp 3 Nam Minh rồi; Thứ hai: Tôi nghĩ cậu đã giấu tôi rất nhiều chuyện.”

“Cậu ra khỏi đây đi.” Mã Lực giật phắt chiếc cốc trong tay Tư Vọng, đẩy Tư Vọng cao lêu nghêu ra cửa, “Tôi đang váng đầu lắm đây! Cậu vốn chả phải thầy giáo Thân Minh gì hết, chẳng qua chỉ là một thằng học sinh trung học bị thần kinh mà thôi, thế mà tôi lại để cho cậu vào nhà!”

Cậu thiếu niên cứ đứng ở cửa không chịu rời đi.

“Xin lỗi, những chuyện tôi từng làm cho cậu đã quá nhiều rồi! Tôi phải gọi bảo vệ thôi!”

“Cậu đã quên dòng chữ “Câu lạc bộ thơ Chết” mà cậu dùng compa khắc lên trên bậu cửa sổ phòng ký túc hay sao?” Tư Vọng quay trở lại phòng khách, ngồi trên ghế sofa khép mắt, khẽ ngâm: “Có người nói, có một chữ / một khi nói ra, là chết/ Tôi lại bảo rằng/ Cuộc đời con chữ ấy/ Từ nay / Mới bắt đầu.”

“Tôi không nhớ.”

“Nữ thi sĩ người Mỹ Emily Dickinson, một đêm như thế này mười bảy năm về trước, tôi từng đọc bài thơ này ở thư viện trường Nam Minh. Những người có mặt lúc đó ngoài cậu ra, còn có Liễu Mạn và Âu Dương Tiểu Chi.”

Mã Lực vừa định cất lời thì bỗng dưng tắc nghẹn, anh ta lôi từ trong tủ lạnh ra một lon bia, khui nắp, ực một ngụm lớn. Trên môi dính đầy bọt, thực sự rất nam tính.

“Cảm ơn cậu đã không đuổi tôi đi.”

Cậu thiếu niên bày ra vẻ mặt yếu ớt đáng thương, xem ra không phải là giả bộ.

“Chữ trên bậu cửa sổ vẫn còn ư?”

“Còn.”

“Đúng là kỳ tích.”

“Chủ nhiệm lớp tôi bây giờ là Trương Minh Tùng.”

“Ông ấy hả?” Mã Lực lắc lắc đầu, lại hớp một ngụm bia, “Thật không ngờ.”

“Có người nói… chính hắn đã giết tôi!”

“Không thể nào!”

“Vậy cậu biết ai giết tôi sao?”

Mã Lực ra sức vò đầu bứt tóc, tự lẩm bẩm một mình: “Chóng mặt quá, có phải mình đang mơ hay không? Sao có thể gặp phải oan hồn của thầy Thân cơ chứ?”

“Thì cứ coi như đây là mơ đi.”

Mã Lực đẩy phắt Tư Vọng ra, nhảy lên khỏi sofa, mở toang cửa sổ nhìn xuống cảnh tượng hoa lệ của đêm giáng sinh. Anh ta rút ra một điếu thuốc, ngọn lửa bên khóe môi bừng sáng, làn khói xanh vừa bay lên đã bị gió lạnh thổi tan tác: “Anh bạn nhỏ, cậu mắc chứng thần kinh phân liệt có phải không? Hay là hoang tưởng rằng đang có oan hồn ám lên người? Tôi nói cho cậu biết, tất cả những gì cậu vừa nói đều là chuyện không có thật, đều là ảo giác cả thôi! Chẳng có Trương Minh Tùng hay Liễu Mạn, chẳng có Âu Dương Tiểu Chi nào cả!”

Gương mặt anh ta lại trở về với vẻ lạnh lùng, anh ta không do dự ném thẳng điếu thuốc đã sắp cháy hết từ cửa sổ tầng 20 xuống.

“Tôi không phải là anh bạn nhỏ, tôi là chủ nhiệm kiêm giáo viên ngữ văn trường cấp 3 Nam Minh. Tôi là Thân Minh, nếu như tôi còn sống, năm nay tôi 41 tuổi.”

“Lạnh quá!”

Môi Mã Lực tím tái, anh ta quờ quạng đóng chặt cánh cửa sổ lại.

“Cậu nói Âu Dương Tiểu Chi là do tôi tưởng tượng ra ư? Giờ đây ngày nào tôi cũng được gặp cô ấy, nếu muốn cậu cứ quay lại trường Nam Minh mà xem.”

“Không, tôi mãi mãi không muốn quay lại đó!”

“Âu Dương Tiểu Chi giờ là giáo viên ngữ văn của tôi.”

“Sao cô ấy lại làm giáo viên? Sao cô ấy lại về Nam Minh?”

“Vừa mới quay về năm nay thôi… Tôi cũng không biết tại sao.”

“Tiểu Chi không biết cậu là Thân Minh sao?” Mã Lực cuống cuồng đổi cách hỏi “Không biết cậu tự xưng là Thân Minh sao?”

“Tôi vẫn chưa nói… có lẽ tôi sẽ sớm cho cô ấy biết thôi.”

Tư Vọng bước vài bước trong phòng khách, bắt gặp một hệ thống phòng chiếu gia đình đắt tiền và những chiếc kệ CD đẹp đẽ, trên đó lộ ra bìa đĩa của DVD “Bá Vương Biệt Cơ” bản giới hạn: “Cậu vẫn còn xem cái này sao?”

“Ừ, sáng nay vừa mới lấy ra, vốn định buổi tối xem cho bớt vô vị.”

Mã Lực còn nhớ năm 1994, khi nhà trường tổ chức cho học sinh đi xem phim chiếu rạp, khi ra khỏi phòng chiếu thầy giáo Thân còn rơi lệ.

“Tôi vẫn muốn xem lại lần nữa.”

Cảm giác câu nói này giống như đang làm nũng, Mã Lực ngoan ngoãn lấy đĩa ra, đặt vào đầu DVD. Hai người ngồi trên ghế sofa, tắt đèn xem phim. Trên màn ảnh xuất hiện hình ảnh nhà thi đấu, Bá Vương và Biệt Cơ nắm tay nhau bước vào…

160 phút sau, Mã Lực tiễn cậu xuống thang máy, khi đến hầm đậu xe B2, vẫn dùng chiếc Porsche Cayenne màu đen ấy đưa cậu về nhà, đi qua cây cầu Vũ Ninh bên sông Giang Tô, Tư Vọng đột nhiên hét lớn: “Dừng xe!”

“Không được dừng xe ở đây!”

“Dừng lại!”

Mã Lực cực kỳ nghe lời thầy giáo, đạp phanh dừng lại bên thành cầu.

“Cảm ơn!” Tư Vọng mở cửa xuống xe, vẫy tay, “Tạm biệt!”

“Cậu không sao chứ?”

Mã Lực hạ kính xe xuống hỏi, dưới ánh đèn đường cậu thiếu niên cười nói: “Yên tâm đi! Tôi không nhảy sông đâu! Cậu mau quay về đi.”

Trong đêm tối chiếc Porsche Cayenne chạy xa dần, trên cầu chỉ còn những dòng xe chạy qua như bay, không còn bóng người nào khác, Tư Vọng trèo lên lan can lạnh buốt, nhìn dòng nước sông Giang Tô chảy xiết, gào thét không ngừng không nghỉ…

Chương 8

Ngày cuối cùng của năm 2011.

“Tôi là thám tử linh hồn.”

“Được thôi, giờ tôi chỉ có một yêu cầu, là xin cậu đừng có đọc Conan nữa! ”

“Cảnh sát Diệp Tiêu, tôi không đùa với anh đâu.”

“Trời tối rồi, đáng ra cậu nên về nhà kẻo mẹ cậu lại gọi điện cho tôi.” Diệp Tiêu đang soi gương cạo râu trong nhà vệ sinh, “Bạn Tư Vọng ạ.”

Trong gương xuất hiện một gương mặt khác, gương mặt mới qua sinh nhật 16 tuổi chưa lâu, đã bước vào tuổi hoa niên trai tráng, trong hàng mi và đôi mắt ánh lên nét lạnh lùng ương ngạnh, vài năm nữa có lẽ sẽ còn đẹp trai hơn Diệp Tiêu vài phần.

“Tôi là Thân Minh.”

Chỉ bốn chữ ngắn gọn, nói bằng giọng của người trưởng thành, âm sắc vẫn trong trẻo nhưng chất chứa oán niệm của mười sáu năm lìa trần.

Diệp Tiêu tắt dao cạo, cả thế giới dường như trở nên yên tĩnh. Một nửa mặt viên cảnh sát vẫn còn lởm chởm râu, nhìn thẳng vào gương mặt cậu thiếu niên qua tấm gương. Chỉ ngừng lại vài giây thôi rồi tiếng dao cạo lại vang lên ồn ã, anh tăng nhanh tốc độ cạo râu, đuôi mắt vẫn không rời Tư Vọng.

“Cảm ơn cậu đã cung cấp thông tin cho cảnh sát, cuối cùng cũng biết được bí mật kinh thiên động địa rồi!”

Diêp Tiêu sống ở tầng thứ 28 của tòa chung cư đối diện với cao ốc Mộng Tương Lai – Future Dream đèn đuốc sáng suốt đêm. Bên cửa sổ là một khẩu súng bắn tỉa quân dụng, Tư Vọng tò mò cầm lên xem xét, lại bị anh giật lại: “Cẩn thận! Đồ thật đấy!”

“Anh định ám sát ai à?”

Ở tầng cao nhất của tòa cao ốc Mộng tương lai – Future Dream có mấy khung cửa sổ sáng đèn, quả nhiên là vị trí bắn tỉa tuyệt vời.

Anh bỏ súng vào tủ bếp, nghiêm nghị cảnh cáo: “Không được nói với bất cứ ai, nếu không…”

“Tôi sẽ giữ bí mật.” Tư Vọng liều lĩnh ra điều kiện với viên cảnh sát, “Nhưng trước hết anh phải tin tất cả những gì tôi nói!”

Diệp Tiêu là một người đàn ông độc thân, sống trong chung cư cao tầng, có một phòng khách một phòng ngủ, phòng ốc được dọn dẹp sạch sẽ hơn nhà của cảnh sát Hoàng Hải một chút, nhưng cũng có không ít mì ăn liền và những đồ ăn linh tinh khác. Trong phòng không hề có chút mùi khói thuốc nào, không thấy cả rượu và cafe, là một người theo chủ nghĩa tiết chế không bia không rượu.

“Năm 1995, sau khi Thân Minh chết, linh hồn của anh ấy không tiêu tan mà trôi dạt trong thành phố này mười sáu năm, ẩn vào người một cậu con trai tên là Tư Vọng.”

“Đột ngột xông vào nhà tôi chỉ để nói cho tôi biết điều này sao? Nếu vậy, tại sao lại vô duyên vô cớ cho tôi biết bí mật đã bị giấu kín mười sáu năm này?”

“Tôi sợ tôi không sống được đến năm 18 tuổi.”

“Có người uy hiếp cậu sao?” Diệp Tiêu liếc nhìn lỗ mắt mèo trên cửa ra vào, “Tôi sẽ bảo vệ cậu.”

“Không phải, dạo này tôi luôn gặp ác mộng, mơ thấy mình đã chết, nếu không phải là có người cầm dao cứa cổ thì cũng là qua đường bị xe đâm hoặc trượt chân ngã từ trên sân thượng xuống…”

“Cậu sợ một khi mình chết đi rồi thì bí mật này mãi mãi bị chôn vùi, cậu sẽ không có cơ hội báo thù cho chính mình nữa có phải không?”

“Diệp Tiêu, anh thật là thông minh.”

“Mới tí tuổi đầu đã biết nịnh nọt! Nếu cậu thực sự là linh hồn của Thân Minh chết từ năm 1995, tại sao lại không trực tiếp giết kẻ đã sát hại mình?”

Tư Vọng cười ảo não: “Tôi không biết kẻ đó là ai. Hung thủ sát hại tôi từ sau lưng, tôi không nhìn thấy mặt hắn.”

“Tôi sẽ bắt được hắn.”

“Có manh mối rồi sao? Là gã Lộ Trung Nhạc mở cửa hàng băng đĩa phải không? Chỉ có tôi mới có thể giúp anh phá án! Bởi vì, tôi là Thân Minh, tôi là nạn nhân thứ hai năm 1995, tôi có thể nói ra rất nhiều bí mật mà người khác không biết. Mười sáu năm trước, khi tôi được sinh ra làm Tư Vọng, tôi đã thề sẽ phải tìm ra hung thủ. Nhiều năm nay, tôi đã cùng cảnh sát Hoàng Hải điều tra, tôi còn có tư cách điều tra vụ án này hơn cả anh!”

“Được rồi, vậy thì cậu cũng đồng thời là kẻ giết người, chính cậu đã giết chủ nhiệm giáo vụ Nghiêm Lịch có phải không?”

Câu hỏi ngược ấy khiến Tư Vọng khẽ run rẩy, gương mặt lóe lên nét đáng sợ, tựa như đang quay ngược trở lại hiện trường vụ án: “Đúng vậy.”

“Có lúc tôi cũng hơi nghi ngờ, có phải trong cậu còn tồn tại một con người khác hay không, bởi vì nhìn ánh mắt cậu, tôi thấy bóng dáng của một người trưởng thành, từng trải qua những đau đớn khó ai tưởng tượng nổi – chỉ có tôi mới hiểu được cậu, vì tôi và cậu đều cùng một loại.”

“Tôi đoán anh đã từng mất đi người thân yêu nhất.”

“Đau đớn xé tim gan.”

“Thế nhưng Diệp Tiêu ạ, anh chưa từng nếm trải cảm giác chính mình bị giết, đau đớn hơn cả không nằm ở thể xác, mà là sau khi chết đi rồi sẽ trở thành một con người khác, sẽ phải từ biệt tất cả những người xung quanh, phải bắt đầu từ một đứa trẻ, trưởng thành lại một lần nữa, rồi hiểu rằng, thì ra tôi sống hơn hai mươi năm qua đều là vô ích.”

“Dù tôi không tin trên đời này có ma quỷ, nhưng cậu có thể nói cho tôi tất cả những gì cậu biết, cả sự thật lẫn những điều bịa đặt. Nói đi, thám tử linh hồn.”

“Mười sáu năm trước, nghi vấn lớn nhất của các anh là, ngày 19 tháng 6 năm 1995, tại sao Thân Minh đang yên đang lành lại chạy đến khu Ma nữ ấy để tìm cái chết?”

“Đúng vậy, làm rõ được nguyên nhân này, có lẽ sẽ tiến thêm một bước lớn trong tiến trình phá án.”

“Nhưng đây là một bí mật.”

Nghe được câu trả lời này, Diệp Tiêu thất vọng lắc đầu, mở cửa phòng: “Cậu có thể về được rồi.”

“Khoan đã, còn một vấn đề nữa liên quan đến Trương Minh Tùng.”

“Thực ra, tôi đã từng nói chuyện với Trương Minh Tùng, anh ta nói năm đó Hoàng Hải đã trao đổi với anh ta vô số lần, có lần còn lôi anh ta lên đồn cảnh sát, chính lãnh đạo của Bộ giáo dục đã bảo lãnh cho anh ta ra. Liệu người đó có phải là kẻ sát nhân điên cuồng hay không? Tôi cũng không thể nào phán đoán được.”

“Chẳng phải chỉ cần lục soát nhà anh ta là xong sao?”

“Không có bất kỳ chứng cứ xác thực nào thì sao có thể dễ dàng xin lệnh lục soát được? Nhất là đối với loại người tai to mặt lớn như thế này.”

Logic trong đầu Diệp Tiêu vô cùng rõ ràng, anh lập tức trở lại chủ đề: “Lạc đề rồi! Cậu không thể chứng thực tất cả những điều cậu nói, cậu vẫn đang tưởng tượng ra đấy, bạn Tư Vọng ạ.”

“Nhất định anh sẽ phải hối hận nếu không tin lời tôi!”

Diệp Tiêu bỗng nghĩ đến Thân Viện Triều, có lẽ vẫn nên cho cậu ấy một cơ hội cuối cùng: “Nếu cậu vẫn còn giữ được ký ức, hãy nói một chút về bố của Thân Minh là Thân Viện Triều đi.”

“Tôi là con riêng của Thân Viện Triều, đây là bí mật lớn nhất đời ông ấy. Khi tôi còn sống, ông ấy luôn nơm nớp lo sợ bí mật này bị phát hiện. Nhưng ông ấy lại không phải loại người lòng dạ sắt đá, mỗi tháng đều lo sinh hoạt phí cho tôi, khi tôi còn phải sống dưới tầng hầm, ông ấy thường xuyên mang sách vở tới cho tôi, từ truyện tranh cho đến danh tác nổi tiếng thế giới. Tôi có ấn tượng sâu đậm nhất với cuốn “Thép đã tôi thế đấy” mà ông ấy sưu tầm được hồi còn trẻ, cuốn sách bìa cứng, đẹp tinh xảo, bìa đầy những sắc màu, in hình Pavel Korchagin đội mũ hồng quân cưỡi trên lưng ngựa, đôi mắt cương nghị trông về phương xa. Tôi đã đọc cuốn sách ấy ít nhất là mười lần, đến nỗi bìa sách rách tơi tả, thuộc nằm lòng từng câu từng chữ của Ostrovsky, nhớ cả hình ảnh chiến sĩ Trung Quốc xuất hiện trong trận đánh thành Petersburg. Tôi đã dùng bút nước mực đỏ viết lên trên trang bìa một câu danh ngôn, rằng “Cái quý nhất của con người ta là sự sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí….”

“Tôi từng thấy cuốn sách đó trong nhà Thân Viện Triều, trên giá sách của ông ấy – Ông ấy nói ông ấy đã cầm nó về từ phòng ngủ của Thân Minh ở trường Nam Minh sau khi anh ta mất.”

“Tốt quá! Ông ấy vẫn còn giữ nó lại cho tôi!”

Diệp Tiêu quan sát kỹ lưỡng gương mặt của cậu thiếu niên, những biểu cảm đó hoàn toàn thuộc về một người đàn ông trung tuổi, nếu như cậu ta đang giả bộ, thì thực sự xứng tầm siêu sao điện ảnh.

Bỗng nhiên anh lấy giấy bút ra bảo: “Cậu có thể viết lại câu đó một lần nữa không?”

Tư Vọng hoảng hốt gật đầu, chộp lấy giấy bút, dùng nét chữ của Thân Minh viết: “Cái quý nhất của con người ta là sự sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người….

Đây chính là dấu ấn duy nhất để anh có thể chứng minh mình chính là mình.

Diệp Tiêu nhìn anh ta viết những dòng chữ kia, thở dài nói: “Pavel Korchagin… tôi cũng từng tâm niệm câu nói này năm 16 tuổi.”

“Tại sao anh lại làm cảnh sát?”

“Số phận.”

“Cũng giống như tôi sau khi chết trở thành Tư Vọng?”

“Có lẽ là vậy.”

“Anh tin rằng tôi là linh hồn của Thân Minh rồi chứ?”

Diệp Tiêu lắc đầu nói: “Trên đời này không có ma quỷ, nhưng tôi có thể giúp cậu, cậu cũng nhất định phải giúp tôi làm rõ mọi chuyện.”

Chương 9

Tháng lạnh lẽo nhất trong năm, công trình đường ống trên đường Nam Minh bị kéo dài, ai cũng biết bên trong ẩn chứa những vụ việc phi pháp. Giáo viên và học sinh kêu trời kêu đất. Âu Dương Tiểu Chi đi tàu điện ngầm đến trường, cô vừa ra khỏi bến, đã sắp muộn giờ làm mà còn có người tranh chỗ trên một chiếc taxi màu đen, cô chạy tới vẫy tay: “Đợi tôi với!”

Cửa xe mở ra, hé lộ gương mặt một thiếu niên – Tư Vọng, học sinh lớp 10 trường Nam Minh.

Tiểu Chi ngồi vào xe, bối rối nở nụ cười: “Trò Tư Vọng, làm phiền em rồi!”

Chiếc xe màu đen chạy qua con đường Nam Minh hầu như đã đóng băng, Tiểu Chi lạnh tới nỗi không ngừng xoa hai tay vào nhau, cậu thiếu niên nói với người tài xế ngồi phía trước: “Làm ơn bật điều hòa được không?”

“Có mấy phút đi đường thôi mà, điều hòa chưa kịp ấm đã đến nơi rồi.”

“Không sao đâu, tôi chịu được mà.” Mặt Tiểu Chi tái nhợt, hơi thở nóng hổi từ miệng và mùi hương từ làn tóc tỏa ra bên cạnh cậu, “Cảm ơn em!”

Lúc xuống xe, Tiểu Chi nói nhỏ bên tai cậu: “Đi muộn chẳng hay ho gì, nên em đừng cho các bạn khác biết nhé!”

Thầy An đang đứng ở cổng trường đợi cô. Ông thầy dạy chính trị này vẫn còn độc thân, cao to đẹp trai, gọi to một tiếng sởn cả da gà: “Tiểu Chi.”

Cách xưng hô ấy khiến cô ngượng nghịu, dù là thầy cô giáo hay học sinh, đều gọi cô là cô Âu Dương, dường như hai chữ “Tiểu Chi” đã trở thành danh từ riêng bị chôn vùi từ thời cấp 3 mất rồi.

“Chào buổi sáng, thầy An.”

“Em đã ăn sáng chưa?”

Thì ra là anh chàng đã chuẩn bị sẵn đồ ăn sáng.

“Ôi, cảm ơn thầy, đúng là cũng hơi đói rồi.”

Cô nhận lấy điểm tâm của thầy An, hai người sóng vai nhau bước vào cổng trường, còn Tư Vọng đứng bên ngoài dưới gió rét của tiết trời âm độ. Tiểu Chi quay đầu lại gọi to: “Trò Tư Vọng, em mau vào đi kẻo muộn giờ!”

Thầy An thích Âu Dương Tiểu Chi là chuyện mà gần như cả trường này đều biết, tất nhiên, các thầy giáo thì ghen tị, các cô giáo thì vun vào. Dù sao đi nữa thì cô chỉ có vẻ ngoài trẻ trung thôi, chứ gái già 35 tuổi, muốn lập gia đình cũng rất khó. Gia đình nhà thầy An có điều kiện, ngụ tại khu cao cấp gần trường Nam Minh, nghe nói là họ hàng thân thích gì đó với hiệu trưởng.

Tiết đầu tiên là chính trị, thầy An phát hiện ra Tư Vọng đang lơ đãng, bất chợt gọi cậu đứng lên trả lời câu hỏi. Các bạn đang chuẩn bị cười vào mũi cậu, không ngờ Tư Vọng trả lời cực kỳ lưu loát, nêu ra chính xác những điểm tương đồng và khác biệt giữa tư tưởng của Marx và Hegel rồi từ đó hỏi luôn ông thầy về thuyết nhất nguyên của Spinoza và mệnh đề “Con người là gì” của Kant. Thầy An mắt chữ O mồm chữ A. Anh chàng không trả lời được câu hỏi của cậu, chỉ còn nước sa sầm mặt nói: “Trò Tư Vọng đúng là thích đọc sách tham khảo.”

Buổi chiều, dù đợt thi cuối kỳ đã gần kề, nhưng Câu lạc bộ văn học vẫn hoạt động theo lệ thường, Âu Dương Tiểu Chi là giáo viên hướng dẫn câu lạc bộ. Năm 1995, thầy hướng dẫn của Câu lạc bộ văn học là Thân Minh, có lần anh rút ra một cuốn tuyển tập thơ và từ của Lý Thanh Chiếu, bảo rằng anh biết cô thích những bài từ nhẹ nhàng nên mua cuốn sách xinh đẹp này tặng cô. Đấy là món quà đầu tiên mà Tiểu Chi được anh tặng.

“Trò Tư Vọng, em đang lơ đãng phải không? Đừng căng thẳng, đây là Câu lạc bộ văn học chứ không phải đang trên lớp, cô nghe các bạn nói em có thể học thuộc rất nhiều thơ từ cổ, có thuộc bài nào của Lý Thanh Chiếu không?”

“Đình viện bao la sâu thăm thẳm

Mây mù song các vắng tanh

Đài mai ngọn liễu thấy phân minh

Xuân về Mạt Lăng thụ

Người lão Kiến Khang thành

Vịnh gió ngâm trăng bao xiết kể

Bằng nay tuổi lão thôi đành

Ai thương tiều tuỵ vơi điêu linh

Thi đèn không ý vị

Đạp tuyết chẳng tâm tình.”

Tư Vọng đọc một hơi không ngừng lại chút nào toàn bộ bài “Lâm Giang Tiên”, các bạn học kinh ngạc, xôn xao bàn tán. “Giỏi…” Tiểu Chi vô thức lật cuốn sách, cô cũng không thuộc toàn bộ bài từ ấy, bất giác gật đầu tán thưởng, “Giỏi lắm!”

Hoạt động của câu lạc bộ kết thúc, Tư Vọng vừa bước ra khỏi phòng học thì bị cô gọi giật lại: “Trò Tư Vọng, đợi tôi một lát.”

Tiểu Chi theo sau cậu bước ra sân vận động, trên mặt đất sương kết dày đặc, bốn bề không một bóng người. Cậu cúi đầu lặng thinh thoăn thoắt bước đi phía trước cô giáo, cô hơi tụt lại phía sau, buông lời trách móc: “Em đi đâu thế?”

Bước chân cậu dừng lại, đã đến góc sân, nơi có bức tường từng nở đầy hoa tường vi giờ đây héo úa.

“Tư Vọng, em đúng là một học sinh kỳ lạ.”

Dù là giáo viên hay bạn cùng lớp cũng đều nhận xét như vậy. Nửa học kỳ đầu của lớp 10 trôi qua rất nhanh, cậu vẫn không hòa nhập với các bạn trong lớp, không nói chuyện với bạn cùng phòng ký túc. Nghe nói nữ sinh nhắn tin cho cậu, mời cậu đi xem phim cuối tuần, cậu chẳng bao giờ trả lời.

“Em hãy trả lời vài câu hỏi của cô được không – bố em làm nghề gì?”

“Bố em ấy ạ? Chỉ là một người bình thường, không có trình độ văn hóa, thường xuyên công tác bên ngoài.”

“Thế còn mẹ em?”

“Mở một hiệu sách nhỏ ạ.”

“Thảo nào, chắc từ nhỏ em đã đọc rất nhiều sách.”

“Là hiệu sách bé nằm đối diện với trường cấp 2 của em trước đây, bán truyện tranh, tiểu thuyết với sách giáo khoa thôi ạ.”

Cuối cùng thì cậu cũng nói chuyện trôi chảy trở lại.

“Tư Vọng, ý của cô là, em rất có căn bản về văn học cổ điển, cô nghĩ gia đình em có truyền thống thư hương uyên bác phải không? ”

“Không ạ.” Cậu buông thõng hai cánh tay, “Hoàn toàn không ạ.”

“Xin lỗi em, cô chỉ vô cùng tò mò về em thôi.”

Tiểu Chi có lý do để tò mò, bài từ vừa rồi của Lý Thanh Chiếu có câu “Đình viện bao la sâu thăm thẳm” mà năm xưa Thân Minh từng ngâm trước mặt cô.

Bước tới cổng trường thì trời đã tối. Trời mùa đông, 5 giờ đã tối om. Lại một trận gió lạnh thổi qua, trời đầy tuyết giá. Cô vẫy tay với cậu: “Tư Vọng, em mau về đi, hết giờ làm việc rồi, cô về nhà đây.”

Vừa hay thầy An xuất hiện trước cổng, nhào tới trò chuyện với Tiểu Chi, Tư Vọng lặng lẽ lùi lại phía sau.

“Tiểu Chi, em đã nghĩ xong chưa?”

“Thật xin lỗi, hôm nay em muốn về nhà sớm, sau này có cơ hội mình lại cùng nhau ăn cơm nhé.”

“Ôi tiếc quá, anh đã đặt sẵn bàn ở nhà hàng Nhật Bản rồi.”

Vẻ mặt thầy An cực kỳ thất vọng, anh chàng ngó nghiêng tứ phía, chắc là muốn xem xem có ai đến đón Tiểu Chi hay không. Kết quả là, anh ta trông thấy Tư Vọng.

Trời u ám, không nhìn rõ sắc mặt anh ta, nhưng có thể tương tượng ra một thái độ y như trong giờ chính trị buổi sáng, ấy thế mà anh ta vẫn cười nói với Tiểu Chi:

“Không sao đâu, Tiểu Chi, em về nhà cẩn thận đấy nhé! Tạm biệt.”

Gió tây thổi càng mạnh hơn, tuyết càng lúc càng dày, Tiểu Chi dựng cổ áo, vén tóc cho vào bên trong, đứng bên vệ đường không ngừng run rẩy.

Một chiếc Elantra màu đỏ dừng lại trước mặt cô, cửa sổ xe hạ xuống lộ ra tài xế lái taxi dù, ngoắc tay nói với cô: “Lên đi!”

Tiểu Chi đang định mở cửa xe thì Tư Vọng chộp lấy cổ tay cô, cô ngạc nhiên quay đầu lại: “Sao thế?”

“Đừng lên xe!”

“Trò Tư Vọng, tại sao?”

Cô hoàn toàn hỗn loạn, không thể ngờ được tại sao một chàng trai bẽn lẽn như cậu lại có thể thô bạo túm lấy cổ tay cô như thế.

“Trực giác – có vấn đề!”

Quay lại lại nhìn tài xế, anh ta mang bộ dạng ngơ ngác vô tội, vừa hay có một thầy giáo bước ra, đang định gọi taxi dù, Tiểu Chi bối rối lùi lại một bước, mở cửa xe nói: “Thầy Vương, thầy lên trước đi.”

“Cảm ơn.”

Lúc lên xe, thầy giáo này còn nhìn Tiểu Chi với ánh mắt kỳ quái – tay cô đang bị một nam sinh túm chặt. Chiếc xe mất hút nhanh như gió, chỉ còn cô và Tư Vọng đứng lại trong gió tuyết.

“Xin lỗi!”

Lúc này cậu mới buông tay ra, Tiểu Chi lập tức ôm chặt hai vai, lạnh lùng nói: “Em muốn làm gì?”

“Cô không cảm thấy người tài xế đó có vấn đề hay sao?”

“Ừ, ngồi taxi dù là không tốt, là kinh doanh phi pháp, làm rối loạn thị trường, rất nguy hiểm, cô không làm tròn trách nhiệm của người giáo viên, cô hứa với em, từ nay sẽ không ngồi taxi dù nữa.” Tiểu Chi thở ra một vòng khói trắng, “Nhưng, trò Tư Vọng này, rất cảm ơn em đã quan tâm đến cô!”

Cô đứng bên vệ đường bụi bẩn, trước mặt không một bóng xe qua: “Thôi vậy, cô vẫn nên đi tàu điện ngầm là hơn, tạm biệt em!”

Màn đêm buông xuống con đường mù mịt, vẫn còn những chiếc máy ủi xúc đất trên công trường. Cô mới đi được vài bước thì Tư Vọng đã đuổi theo sau: “Em đưa cô về.”

“Không cần đâu, em mau về trường đi, nếu không thức ăn trong căng tin sẽ nguội mất.”

“Khu vực này an ninh không tốt, em không yên tâm để cô đi một mình.”

Câu nói ấy làm cô có phần ngượng ngùng, nhưng lại chẳng thể từ chối ý tốt của học sinh: “Vậy thì… thôi được!”

Sắc đêm mênh mang, đường Nam Minh sớm đã không còn như xưa nữa, Tư Vọng không hé răng nói lời nào, tuyết rơi ngập trời không ngừng tạt vào mắt, dần khiến tầm nhìn nhòa nhạt. May mà vẫn còn những ngọn đèn đường đang sáng, rọi xuống bóng của hai người trên mặt đất tuyết phủ trắng xóa.

Con ngõ dẫn đến khu Ma nữ nằm kẹp giữa hai tòa nhà đang được xây dựng, nó ngoằn ngoèo trải lối đến góc khu nhà xưởng bỏ hoang, Âu Dương Tiểu Chi dừng bước, dường như có thể trông thấy những ống khói vỡ nát. Bỗng dưng, cô chẳng thể bước nổi một bước nào nữa.

“Cô đang nhìn gì thế?”

“Ơ… không có gì!”

“Nghe nói… ở đó có một nơi gọi là khu Ma nữ.”

Đây là lần đầu tiên Tư Vọng nói ra ba từ đó với cô, sắc mặt Tiểu Chi trắng bệch như tờ giấy, chẳng khác gì gương mặt người đã chết.

“Em?” Cô nhanh chóng điều chỉnh lại cảm xúc “nghe được từ những học sinh khóa trên có phải không?”

“Năm 1995, đã từng có một thầy giáo chết ở khu Ma nữ này ngay trước đêm diễn ra kỳ thi đại học.”

Không dám nhìn vào ánh mắt cậu, cô quay đầu nhìn về phía đường Nam Minh: “Năm 1995 tôi cũng đang học ở trường Nam Minh, năm đó tôi thi đại học – thầy giáo mà em nói đó, chính là giáo viên chủ nhiệm của lớp chúng tôi.”

“Cô cũng từng tới đó ư?”

“Vấn đề này tốt hơn hết em đừng nên hỏi! Thầy ấy đã bị người ta giết chết.”

“Hung thủ là ai?”

“Không biết, nghe nói vụ án đó vẫn chưa được phá, cho nên – trò Tư Vọng này, xin em đừng nhắc tới nơi đó, càng không nên đi vào con đường nhỏ đó, tôi chỉ muốn em được an toàn thôi, em biết không?”

Cô tiếp tục tiến về phía trước, chẳng hề lưu luyến ngoái đầu lại, Tư Vọng bước theo bên cạnh, gió thổi làm cậu chảy nước mũi không ngừng.

“Em về đi kẻo cảm lạnh.”

“Không sao, em đưa cô đến bến tàu điện.”

“Trò Tư Vọng, cô hỏi em một câu này – tại sao em không gọi cô là cô giáo Âu Dương, lần nào em đều chỉ nói “cô”, nghe rất thiếu lễ độ đấy.”

“Xin lỗi, Tiểu Chi.”

Tiểu… Chi…

“Người nên nói xin lỗi là cô mới đúng! Em là một đứa trẻ đặc biệt, tất nhiên cách diễn đạt và giao tiếp của em cũng khác với người thường, sao cô có thể ép buộc em nói theo thói quen của người thường được. Chưa biết chừng trong mắt em, cái gọi là “tôn sư trọng đạo” chẳng qua chỉ là những lời lẽ hoa mỹ giả dối mà thôi.”

Đã đến bến tàu điện ngầm, mặt đất đã phủ một lớp tuyết mỏng, cậu thiếu niên vẫy tay nói: “Đi đường cẩn thận!”

“Cảm ơn em, Tư Vọng!”

Nếu Tư Vọng đã không gọi cô là “cô” thì cô cũng lược bớt đi từ “trò”.

Chương 10

Học kỳ thứ hai của lớp 10.

Trương Minh Tùng đã gần 50 tuổi, mái tóc lưa thưa trông có vẻ đứng tuổi, có người nói ông ta là một gã trai lăng nhăng, quan hệ với rất nhiều phụ nữ nhưng không muốn chịu trách nhiệm, không muốn bị nhà tù hôn nhân ràng buộc mà thôi.

Mỗi buổi sáng, thầy Trương đều đến trường, quét dọn văn phòng sạch bóng không còn hạt bụi, rồi lại ra sân vận động tập chạy giữ dáng. Ông ta đã ở ngôi trường này hơn hai mươi năm rồi, biết rõ hình dạng của từng tấc đất nơi đây, nơi nào mọc cỏ dại, nơi nào dễ gây gổ đánh nhau, nơi nào có thể nhìn thấy cửa sổ phòng ngủ của học sinh nữ.

Trên sân vận động thường xuyên xuất hiện cậu nam sinh tên là Tư Vọng, vốn chỉ là cậu chàng gầy gò ốm yếu như cọng bún thiu, cao 1m78, nặng hơn năm mươi ký, ấy vậy mà sáng nào cũng dậy sớm tập luyện điên cuồng. Trước tiên cậu ta chạy nhanh quanh sân vận động hai vòng, rồi lại hít đất bốn mươi cái, tập xà đơn hai mươi cái, có lúc còn tập cả quyền cước, võ thuật, thậm chí cả Thái Cực quyền rồi mới về nhà ăn chén liền một lúc hai quả trứng gà sống, dọa cho các bạn học sợ xanh mắt không dám lại gần. Nam sinh thì nói cậu là đồ thần kinh, nữ sinh thì cười cậu ta muốn ra vẻ đàn ông cơ bắp. Có cảm giác thằng bé này có kẻ thù bẩm sinh, nếu không rèn giũa luyện tập thành một cao thủ, chưa biết chừng sẽ có ngày bị giết. Cuối tháng hai, sau tiết cuối của buổi chiều, Trương Minh Tùng gọi cậu lại bảo: “Trò Tư Vọng, đến văn phòng của tôi một lát đi.” Nếu là học sinh khác, thì chưa biết chừng sẽ mừng rỡ ra mặt, rất nhiều người ra sức lấy lòng ông, chỉ nhằm mục đích xin xỏ ông dạy thêm cho, bởi vì rõ ràng môn học dễ lấy điểm cao nhất chính là môn toán.

Văn phòng của ông nằm trên tầng cao nhất của tòa nhà bộ môn toán. Nhà trường dành riêng cho các nhà giáo ưu tú được sử dụng, rộng rãi nhưng cũng u ám, chẳng rõ tại sao cửa sổ luôn mở rất ít và rèm luôn che kín mít. Trương Minh Tùng nghiêm túc nói: “Ngồi đi, đừng căng thẳng! Có biết tại sao tôi lại gọi em tới đây không?”

“Không ạ.”

Tư Vọng ngồi lên chiếc ghế ở góc tường, trên bức tường sau lưng cậu treo đầy những bức gấm – quà tặng của các khóa học sinh cũng như đủ loại bằng khen giấy khen danh dự của thành phố cũng như quốc gia.

“Tôi làm thầy dạy toán, theo lẽ thường cũng không để ý những chuyện này làm gì, nhưng là giáo viên chủ nhiệm, tôi bắt buộc phải có trách nhiệm với tất cả các học sinh của mình.”

“Em đã mắc lỗi gì ạ?”

Trên bàn Trương Minh Tùng có một chiếc máy ảnh kỹ thuật số ống kính đơn, dưới kính bàn là vô số các kiểu ảnh, thì ra ông ta là người đam mê nhiếp ảnh. Ông ta cất máy ảnh vào bao, nhìn chằm chằm vào mặt cậu: “Tôi đang lo lắng cho em, trầm mặc ít lời, tách biệt khỏi tập thể, hành vi kỳ quặc, có nam sinh nói em làm cho chúng sợ hãi.”

“Em không biết người khác nghĩ như thế nào, nhưng em lúc nào cũng thế này, cũng không vì thế mà ảnh hưởng đến thành tích học tập. ”

“Mỗi sáng em đều tập chạy một mình ở sân vận động, tôi để ý thấy có vài nữ sinh âm thầm nhìn theo em. Tôi đã gặp riêng vài nữ sinh để hỏi chuyện, nhưng có người nói em không thích phụ nữ?”

“Ơ, em chỉ là hay xấu hổ trước mặt các bạn nữ thôi mà.”

“Đấy không phải là lý do.” Trương Minh Tùng lộ ra nụ cười khiến cho người khác phải do dự, “Em còn có rất nhiều chuyện giấu giếm thầy cô.”

“Làm gì có ạ.”

Cậu bày ra vẻ mặt ngây thơ vô tội, thầy giáo lại từng bước ép hỏi: “Em là học sinh đặc biệt nhất trong lớp tôi, có thể nói là khác biệt nhất trong cái trường này.”

“Em nghĩ nguyên do chắc có lẽ là bởi vì em quá thích đọc sách, nên mới trở thành mọt sách chăng.”

“Một anh mọt sách ngày nào cũng luyện Thái Cực quyền ấy à?”

“Khu nhà em ở rất loạn, thường xuyên có lưu manh gây gổ đánh nhau tranh giành địa bàn, rèn luyện sức khỏe chỉ là để bảo vệ bản thân và mẹ em thôi ạ.”

“Tư Vọng, tôi đã kiểm tra hồ sơ của em, khu nhà em sắp bị giải tỏa, điều này có thể hiểu được.” Trương Minh Tùng nhấp một ngụm trà, tiến lại gần sát cậu, “Nghe nói bố em mất tích từ khi em học tiểu học, giờ trên hộ khẩu bị ghi chú vào rồi, hai mẹ con em nương tựa vào nhau mà sống. Dù vậy, trong cuộc họp phụ huynh, mẹ em vẫn nói rằng bố em quanh năm suốt tháng công tác ở bên ngoài.”

“Thầy Trương, xin lỗi thầy, đó là việc riêng của gia đình em, xin thầy đừng nói cho bất cứ ai biết, kể cả các thầy cô giáo khác.”

“Cứ yên tâm, tôi sẽ bảo vệ tất cả các học sinh.” Ông ta nhận ra ánh mắt của Tư Vọng không hướng về phía mình, mà là về giá sách khổng lồ phía sau lưng ông ta, “Em đang nhìn gì vậy?”

Giá sách này hoàn toàn không giống như thuộc sở hữu của một giáo viên toán, tất cả đều là lịch sử, tôn giáo, ký hiệu học hoặc hình sự pháp luật. Giữa những cuốn “Chủ nghĩa Gnostic[21]”, “Tự truyện của Jung Carl Gustav”, “Nghiên cứu chén thánh”, “Những nữ phù thủy thời trung cổ”, “Thuật chiêu hồn của Trung Quốc cổ đại”, “Tuyển tập bùa chú Tây Tạng”, “Nghiên cứu bệnh tâm thần”, “Nhập môn pháp y”, còn có một cuốn “Tuyển tập cổ tích hoàng tử hạnh phúc”. Bộ tác phẩm của Oscar Wilde này nằm lạc lõng giữa những cuốn sách của kẻ sát nhân điên cuồng. Bên cạnh đó còn có cả “Bức họa của Dorian Gray” và “Salome”.

“Xin lỗi thầy, em chỉ hơi tò mò…”

“Đây đều là những cuốn sách tôi yêu thích nhất! Nếu như em thích, có thể mượn về đọc.”

“Không cần đâu ạ, em có thể về chưa ạ?”

Sau khi Tư Vọng rời đi, căn phòng còn lại một mình Trương Minh Tùng ngồi dựa lưng vào ghế, trầm ngâm hồi lâu, cho đến khi trời tối hẳn mới đi về phía còn lại của tòa nhà bộ môn toán.

Ông ta mở cửa phòng tư liệu của trường học, chỉ có ông ta và hai giáo viên nữa mới có chìa khóa căn phòng này. Những kệ tủ bọc thép phủ đầy bụi xếp thành từng dãy dài, có ghi chú phân loại năm học rõ ràng. Rất nhanh, ông ta tìm thấy tư liệu của lớp tốt nghiệp năm 1988 – Thân Minh là học sinh tốt nghiệp khóa này.

Năm đó, Trương Minh Tùng là giáo viên toán của anh. Túi hồ sơ dày cộp chưa hề có ai động vào, bên trong có học bạ và sổ liên lạc của mỗi người cùng với điểm số từng môn học kèm lời phê của giáo viên khi tốt nghiệp. Năm đó ít học sinh, chỉ có ba lớp, không đến một trăm học sinh, Thân Minh học lớp B, năm 1985 vào trường, trong lớp này còn có một cái tên khác – Lộ Trung Nhạc.

Mở học bạ của Thân Minh ra, tấm ảnh thẻ học sinh đen trắng giờ đã nhạt nhòa, dưới ánh đèn pin lộ ra ánh mắt u sầu, đôi môi mím chặt, tựa như có điều muốn nói. Nếu như sống ở thời đại này, chắc chắn có thể sánh ngang với mỹ nam thần tượng Hàn Quốc. Trong học bạ ghi rõ, Thân Minh thành tích ưu tú, điểm trung bình ngữ văn từ 85 đến 90, tiếng Anh, chính trị, lịch sử, địa lý càng khỏi phải nói, vật lý và hóa học cũng rất tốt, chỉ mỗi môn toán là hơi yếu, chỉ khoảng 80 điểm. Giáo viên chủ nhiệm dành hết lời khen ngợi, rằng đây là học sinh ưu tú xuất sắc. Thân Minh còn là cán bộ đoàn thanh niên, đại diện cho trường tham gia hội nghị đại biểu thanh niên toàn khu vực, nhận được vô số bằng khen giấy khen.

Tháng 6 năm 1988, trước kỳ thi đại học một tháng, khu nhà ổ chuột đối diện với trường cấp 3 Nam Minh xảy ra hỏa hoạn lớn. Hôm đó đúng vào ngày Trương Minh Tùng trực ban ở trường, ông ta bị ngọn lửa ngút trời phía trước cổng trường làm cho kinh sợ. Có một nam sinh xông vào đám cháy, mãi không thấy trở ra, khi mọi người tưởng rằng cậu đã bị thiêu cháy thì một bóng hình toàn thân bọc lửa xuất hiện trong đêm đen tựa như thiên thần giáng thế. Mọi người vội vã đến dập lửa cho cậu, thì phát hiện ra cậu đang bế một cô bé gái.

Cậu nam sinh cứu người bị nạn ấy chính là Thân Minh, còn cô bé được cậu quên mình cứu mạng ấy là con của những người lang thang sống trong khu ổ chuột, trận hỏa hoạn đã thiêu chết mười sáu người, trong đó có cả bố mẹ cô bé.

Sau mỗi tai họa, dù chết bao nhiêu người, cũng vẫn có đại hội biểu dương tấm gương tiên tiến, Thân Minh trở thành thanh niên ưu tú dũng cảm, lại thêm việc cậu vốn là học sinh xuất sắc, nên có cơ hội được tiến cử vào Đại học Bắc Kinh.

Đó là những chuyện của hai mươi năm về trước, Thân Minh đã chết mười bảy năm rồi, nhưng anh ta đã chết thật hay chưa?

Chương 11

Đầu xuân năm 1994, lần đầu tiên cô bước vào tòa nhà bộ môn toán của trường cấp 3 Nam Minh, bên ngoài khung cửa sổ mưa rơi tí tách, văn phòng giáo viên ẩm ướt lạnh lẽo, mặc quần áo mùa thu cũng vẫn phải run lẩy bẩy.

Sáu năm xa cách, Thân Minh đã là một người đàn ông trưởng thành, một giáo viên ngữ văn cấp 3 khiến người ta phải ngưỡng mộ, Âu Dương Tiểu Chi còn nhớ gương mặt của anh khi đó. Thế nhưng cô đã không còn là cô bé 11 tuổi đói rách lang thang sống trong khu nhà ổ chuột nữa. Cô xách chiếc cặp hai màu đen trắng, mặc chiếc áo len trắng dài ngang gối, để kiểu tóc dài xõa vai hiếm gặp ở nữ sinh thời bấy giờ. Chỉ những diễn viên trong phim Hong Kong mới ăn mặc phục sức như vậy mà thôi.

Làn da cô cực kỳ trắng, trắng đến mức dường như thiếu máu, nhưng đôi mắt đen huyền lại khiến người ta khó quên, mũi và miệng đều rất tinh tế, cứ như bản sao thiếu nữ của Vương Tổ Hiền. Dù nhìn thế nào đi nữa thì cô thiếu nữ 17 tuổi này cũng là con cái của một gia đình danh giá.

Cô cũng rất hiếm khi xuất hiện, đây là trường cấp 3 trọng điểm của thành phố, chỉ những học sinh xuất sắc vượt qua kỳ thi cấp 2 mới có thể vào được, trừ con cái của những cán bộ cao cấp, từ trước tới giờ chưa từng có học sinh chuyển vào giữa chừng.

“Chào thầy ạ, em là Âu Dương Tiểu Chi.”

Cô nhỏ nhẹ cúi mình chào, tựa như gió xuân tươi mát, Thân Minh chưa từng gặp học trò nào lễ phép như thế, anh hơi bối rối nói: “Chào mừng em, trò Âu Dương, tôi là Thân Minh, chủ nhiệm của lớp B, cũng là giáo viên ngữ văn của em, để tôi dẫn em đi gặp các bạn trong lớp nhé.”

Trong văn phòng chẳng còn ai khác, dường như anh không muốn ở một mình với cô học trò này.

Đến phòng học hun hút gió, Tiểu Chi vẫn khom người lễ phép như trước: “Chào các bạn, mình là Âu Dương Tiểu Chi.”

Thân Minh chỉ định cô và Liễu Mạn ngồi cùng một bàn.

Ngồi phía sau là Mã Lực, mái tóc Tiểu Chi dài như dòng suối đen nhánh, tràn qua lưng ghế, rơi xuống mặt bàn phía sau. Vài nam sinh vươn cổ ra nhìn, ánh mắt xuyên qua chiếc áo len trắng như tuyết trên bờ vai cô, nhìn thấy đôi tay thanh mảnh trắng trẻo của cô đang lấy hộp bút và sách vở ra, đặt ngăn nắp trước mặt. Liễu Mạn mặc cả cây đỏ cực kỳ nhiệt tình giúp bạn học mới dọn dẹp giấy rác dưới ngăn bàn.

Những hạt mưa dày đặc đan vào nhau trùng điệp cứ quất vào khung kính cửa sổ cạnh nơi cô ngồi, mấy bông hoa sơn trà nở sớm run rẩy giữa tiết xuân lạnh. Thầy Thân Minh đã vào lớp dạy tiết ngữ văn, hôm nay học bài “Tưởng nhớ Lưu Hòa Trân”, thầy dùng phấn viết lên bảng đen: “Tôi sẽ lấy cái đau thương rất lớn của tôi phơi bày ra giữa nơi không phải người ta ở, khiến chúng nó thỏa thuê ở sự đau thương cay đắng của tôi, rồi đem nó làm của lễ đơn bạc của kẻ chết sau dâng tế linh hồn kẻ đã khuất.

Bỗng nhiên, Âu Dương Tiểu Chi quay đầu lại, khẽ gật đầu với hai nam sinh ngồi phía sau, khẽ mở miệng nhưng không phát ra âm thanh, thì ra cô chỉ đang dùng khẩu hình để nói với họ: “Xin được giúp đỡ nhiều nhé!”

Rất nhanh, cô hòa nhập được vào ngôi trường mới, thân thiết với mấy cô nữ sinh khác, nhất là bạn cùng bàn Liễu Mạn. Nam sinh dĩ nhiên đều săn đón cô, nhưng với họ, Tiểu Chi đều rất lạnh nhạt, thường xuyên cự tuyệt hết sức nhẹ nhàng.

Thầy chủ nhiệm Thân Minh dường như ngờ ngợ đã từng gặp cô, Tiểu Chi ngờ rằng phải chăng anh đã nhận ra cô? Nhưng nghĩ lại, con gái mười tám thay đổi biết bao nhiêu, sớm đã là con người khác hẳn so với sáu năm trước, lẽ nào chỉ riêng ánh mắt thôi cũng đủ tiết lộ bí mật rồi? Suốt mấy tuần liền, trừ những lúc trò chuyện trên lớp học, không một lúc nào thầy giáo ở riêng hai người với cô. Nhưng quan hệ giữa thầy và các bạn học đều rất tốt, Liễu Mạn thường gặp thầy để hỏi bài, thầy còn thường xuyên chơi bóng rổ với bọn Mã Lực nữa.

Giáo viên đối xử với cô tốt nhất ở trường cấp 3 Nam Minh là một cô giáo dạy nhạc xinh đẹp, vừa tốt nghiệp trường sư phạm đã được phân về đây, giờ đây đã thuyên chuyển về một trường cấp 2 nữ sinh. Năm đó người ta không coi trọng các môn âm nhạc hay mĩ thuật, học kỳ 2 lớp 11 rất ít những tiết này, ấn tượng của cô với giờ âm nhạc chỉ dừng lại ở những lúc được nghe cô giáo chơi đàn dương cầm. Bài kiểm tra âm nhạc cuối cùng là hát theo tiếng đàn. Có người hát nhạc của tứ đại thiên vương, có người hát “Tân uyên ương hồ điệp mộng”, cô giáo cứ điềm nhiên đệm nhạc cho những bài hát đang thịnh hành ấy, riêng Tiểu Chi lại chọn bài hát “Tổ quốc tôi” trong sách giáo khoa, lúc đó cô chỉ nghĩ, làm một cô giáo chẳng phải là rất tuyệt hay sao. Có bạn nam còn chép tặng cô bài “Đoản Khúc” của Biện Chi Lâm: “Em đứng trên cầu ngắm trời mây, người ngắm trời mây đứng ngắm em, trăng điểm tô khung cửa em rực sáng, em tô hồng thêm giấc mơ bao người.” Từ đầu đến cuối cô đều chẳng thèm đếm xỉa đến những mẩu giấy lãng mạn ấy, trừ bạn cùng bàn và cùng phòng ký túc là Liễu Mạn ra, cô luôn duy trì khoảng cách vừa phải với những người xung quanh, không chán ghét cũng chẳng gần gũi, không ngờ mười mấy năm sau, bài thơ ấy đã được đưa vào sách giáo khoa văn lớp 10.

Trước giờ Âu Dương Tiểu Chi chưa từng nhắc đến nguyên nhân cô chuyển trường, nhưng có thầy giáo nọ vô tình tiết lộ bí mật – bố cô từng là một quân đoàn trưởng, đã lập công lớn rồi hy sinh, được truy phong là liệt sĩ cách mạng. Tiểu Chi và mẹ nương tựa vào nhau mà sống cho đến tận bây giờ, cô còn là một học sinh ưu tú xuất sắc và hiếu học, trước kia vốn cũng học ở một trường cấp 3 trọng điểm trong thành phố, nhưng không rõ đã xảy ra chuyện gì mà phải chuyển vào học ở một trường có chế độ nội trú. Vì cô là con liệt sĩ nên Bộ giáo dục có chính sách ưu tiên, chuyển cô vào trường cấp 3 Nam Minh này.

Thực ra, bố cô không phải là liệt sĩ.

Năm 2012, tiết xuân lạnh lẽo buốt giá.

Cô đã không còn là cô nữ sinh cấp 3 mặc áo len dài màu trắng nữa, mà đã trở thành cô giáo ngữ văn mặc chiếc áo khoác màu trắng phối tinh tế với đôi bốt cao cổ. Đêm nay, bầu trời sao trong trẻo đến lạ kỳ, rặng trúc đào vẫn còn chưa nở hoa. Tiểu Chi một thân một mình đi xuyên qua sân vận động, rảo bước tiến vào tòa nhà tổng hợp, mở cánh cửa nhỏ ở tầng 4 để ra sân thượng. Đây là nơi cô thường tới hồi học cấp 3, giờ chẳng còn mấy học sinh biết đến sự tồn tại của nơi chốn bí mật này. Cô cúi đầu nhìn xuống bên dưới, thầy An đang loanh quanh dưới sân vận động, cái anh chàng này sống chết cũng phải mời cô đi ăn cơm tối, tuy cô đã trực tiếp từ chối hai lần, nhưng anh ta vẫn cứ quấn chặt lấy không buông. Cũng chỉ có trốn ở đây anh ta mới vĩnh viễn không thể tìm tới được.

Ánh trăng sáng vằng vặc, gió lạnh thổi hắt hiu, mái tóc cô chợt tung bay. Cô cảm thấy sau lưng có người, quay lại thì bắt gặp gương mặt của một thiếu niên 17 tuổi.

“Tư Vọng, sao em lại ở đây?”

“Suỵt!” Cậu đặt ngón trỏ lên môi, “Đừng để anh ta nghe thấy!”

Tiểu Chi hiểu ý gật đầu, cậu bước tới lan can sân thượng, cúi đầu nhìn xuống xem xét.

“Sao thầy ấy lại theo đuổi cô?”

Cậu hạ thấp giọng, sợ gió thổi âm thanh xuống dưới lầu.

“Chuyện của các thầy cô, không liên quan gì đến học sinh.”

Cô tỏ ra dáng vẻ nghiêm trang trên lớp học, chỉ còn thiếu mỗi cây roi nữa thôi.

“Em đang lo cho cô.”

“Trò Tư Vọng, hãy gọi tôi là cô Âu Dương!”

Tuy vẻ cô nghiêm khắc nhưng cô vẫn hiểu ý của Tư Vọng, hạ giọng xuống mức nhỏ nhất, gần như thì thào bằng hơi thở, nghe ra có vẻ hơi buồn cười.

“Được rồi, Tiểu Chi.”

Câu trả lời của Tư Vọng lại càng khiến cô luống cuống: “Cô không ép em nữa! Nhưng cô muốn biết nửa đêm rồi sao em còn chưa về ký túc xá ngủ?”

“Không ngủ được.”

“Em theo dõi cô phải không?”

“Không phải, là em tình cờ nhìn thấy cô trên sân vận động, thầy An bám theo sau cô, em sợ thầy ấy bắt nạt cô.”

“Nhưng sao em lại biết tôi sẽ trốn ở đây?” Cô vuốt phẳng lại váy cho ngay ngắn, sợ cậu nhìn thấy phía sau, “Không thể nào! Không ai biết về cánh cửa nhỏ trên sân thượng hết! Trừ phi…”

“Em biết.”

Cậu làm động tác bảo cô giữ yên lặng, dưới ánh đèn tù mù, thầy An thất vọng tràn trề đang bước ra khỏi cổng trường.

“Tư Vọng, rốt cuộc em là ai?”

“Em đã từng tới đây.” Cậu vắt tay lên lan can sân thượng, “Rất nhiều năm về trước.”

“Em mới tí tuổi đầu mà dám nói với cô là rất nhiều năm trước à?”

“Mười bảy năm trước, cô cũng đứng ở nơi này, liêu xiêu tựa như sắp rơi xuống, có người giữ cô lại từ phía sau, nếu không cô đã rơi xuống dưới kia và chết rồi. ”

“Im miệng!”

Cuối cùng, sắc mặt Âu Dương Tiểu Chi đã hoàn toàn thay đổi, cô vừa bước vài bước toan rời đi đã quay đầu lại, muốn nói lại thôi.

“Thật ra, cô muốn tự sát.”

“Cô không muốn!” Cô cúi đầu không dám nhìn vào mắt đối phương, “Cô… cô chỉ là… buổi tối nhức đầu nên muốn ra ngoài hóng gió, không cẩn thận nên trượt chân thôi mà…”

“Ngày đó cô đâu có nói vậy! Cô nói từ khi bước vào ngôi trường này, đã có người phao tin đồn nhảm về cô, rồi một đồn mười, mười đồn trăm, thêm mắm dặm muối, chứ thực ra cô là một cô gái ngoan, không dám chuyện trò gì nhiều với bạn nam, càng không dám giao du với đám thiếu niên cá biệt, chẳng qua cô chỉ là đối tượng tán tỉnh trêu chọc của người ta mà thôi! Có phải như thế không?”

“Đúng, tôi đã từng nói như thế, sao em lại biết được?”

“Năm 1995, ngay trên sân thượng này, vào một đêm mùa xuân cô đã nói ra rất nhiều lời từ tận tâm can, rằng nếu chỉ nhằm vào một mình cô thôi thì cô vẫn có thể chịu đựng được, thế nhưng học kỳ 2 năm lớp 12, những lời đồn đại càng ác ý hơn, thậm chí còn liên lụy đến cả bố mẹ cô, đấy mới là điều mà cô không thể chịu đựng được nhất. Nếu cứ ở lại đây, sẽ mãi mãi không thể chứng minh mình trong sạch, là học sinh sắp thi đại học, đã chuyển trường một lần, không thể tiếp tục chuyển trường nữa, cô đã không còn nơi nào để dung thân nữa rồi.”

Năm 1995, ngay trên sân thượng này, vào một đêm mùa xuân, cô đã giãy giụa như một chú mèo đang sợ hãi, hai người ngã lăn xuống bùn nước, vòng tay anh ôm chặt eo cô, ấm áp tựa miếng bọt biển. Tiểu Chi ngừng chống cự, đôi má lạnh băng còn vương những giọt lệ nóng hổi, cô nhìn lên những vì sao lấp lánh khắp trời, cô hít sâu một hơi, khuôn ngực phập phồng. Cô quay đầu lại, nhìn thấy gương mặt của thầy.

Thân Minh là giáo viên chủ nhiệm kiêm thầy dạy ngữ văn của lớp cô, thường xuyên sống trong ký túc xá. Hôm đó tình cờ đúng vào phiên trực ban, thầy đang đi tuần thì thấy trên sân thượng tòa nhà tổng hợp thấp thoáng bóng người, sợ rằng có người muốn tự vẫn nên xông lên cứu. Nhiều năm sau, cô vẫn nhớ như in mẩu đối thoại đó:

“Tiểu Chi, xin em đừng chết.”

“Tại sao?”

“Nếu em chết đi rồi, chẳng phải là tôi thiệt thòi lắm sao, bảy năm trước tôi xông vào đám cháy đó, suýt nữa bị thiêu chết, chẳng phải để em có thể tiếp tục sống thật tốt hay sao!”

“Thầy nhận ra em rồi ư?”

“Từ ánh mắt đầu tiên tôi đã có cảm giác mình từng gặp em rồi, sau đó mới phát hiện em hơi kỳ lạ nên bắt đầu âm thầm để ý đến em. Không ngờ mấy năm trôi qua em đã lớn thế này rồi, em thường hay ngẩn người nhìn về bãi đất hoang đối diện trường học, có lúc lại còn một mình đi về khu Ma nữ, nên tôi mới nhớ ra cô bé ngày xưa.”

“Thầy Thân, em cứ tưởng thầy sẽ mãi mãi không bao giờ nhận ra em nữa.”

“Quà em tặng cho tôi, giờ tôi vẫn còn giữ mà.”

“Đây là lần thứ ba thầy cứu mạng em, lần này em biết lấy gì để đền ơn thầy đây?”

“Món quà mà thầy mong được nhận nhất chính là mỗi ngày có thể nhìn thấy em sống thật vui vẻ.”

Âu Dương Tiểu Chi hiểu ý mỉm cười, rồi sau đó không kiêng dè gì nữa mà cười phá lên, cười đến mức tưởng như toàn trường đều có thể nghe thấy.

Ngày hôm sau, rất nhiều học sinh đều nói rằng đêm qua nằm mơ thấy ma nữ gào thét điên loạn.

Năm 2012, cũng là một đêm xuân buốt giá, Tiểu Chi đứng trên sân thượng của khu nhà tổng hợp, ánh trăng rọi xuống bờ mi ướt đẫm.

“Trò Tư Vọng, em nghe được những chuyện này từ đâu?”

Đối diện với ánh mắt hoảng loạn của cô, cậu thiếu niên chỉ vào đầu của chính mình.

“Em bị bệnh tâm thần có phải không? Học kỳ trước có phải chính em đã lén lút nhét mẩu giấy chép bài thơ của Hoàng Trọng Tắc vào bàn làm việc của cô không?”

“Đúng vậy!”

Gió lạnh ào ạt thổi trên sân thượng, Tiểu Chi sững người một lúc lâu rồi đột ngột giơ cánh tay lên, tát một cái thật mạnh vào mặt cậu.

“Đê tiện! Vô liêm sỉ! Cậu có biết cậu đang làm gì không?” Cô không kìm được thét lớn, mặc cho nước mắt nước mũi đầm đìa, “Tư Vọng, tôi cầu xin em, đừng tiếp tục bám lấy tôi nữa! Em cũng không muốn gặp phiền phức đúng không, trò chơi này không vui một chút nào hết! Em có hiểu không hả?”

“Chính cô không hiểu thì có.”

Trên mặt cậu hằn năm vệt ngón tay của cô, cậu vẫn đứng bất động, đôi mắt không chút thay đổi.

“Xin lỗi em, cô phải làm cho em tỉnh lại!” Cô bước tới xoa vào gương mặt Tư Vọng, năm ngón tay mảnh dẻ lạnh như băng, “Cô là cô giáo Âu Dương của em, 35 tuổi, không còn trẻ nữa, vài năm nữa thôi sẽ giống như mẹ của em. Em mới 17 tuổi, lại đẹp trai thế này, sẽ có rất nhiều cô gái thích em.”

“Điều đó không quan trọng.”

“Nghe này con trai! Tất cả những gì em vừa nói đều xảy ra trước khi em ra đời! Hơn nữa, em có biết không, thầy giáo cứu cô ở nơi này sớm đã qua đời rồi!”

“Tiểu Chi, tôi biết, anh ta chết lúc 10 giờ đêm ngày 19 tháng 6 năm 1995.”

Tư Vọng bình tĩnh nói ra thời gian Thân Minh qua đời, tựa như trả lời một câu hỏi vô vị nhạt nhẽo trong giờ ngữ văn.

“Dừng lại đi!”

“Cô sợ ư?”

“Tư Vọng, em có âm mưu, nửa năm nay từ khi vào trường Nam Minh, em cứ luôn lén lút thu thập mọi chuyện về tôi phải không? Có phải em đã đọc nhật ký của anh ấy, đã bắt chước nét chữ của anh ấy không?”

“Anh ta trước nay chưa bao giờ viết nhật ký cả.”

“Vậy em đã đi tìm Mã Lực phải không?”

“Cô thực sự không liên lạc chút nào với bạn học cũ hay sao?”

“Đừng có giả làm người lớn nữa! Xin em đừng có lại gần tôi, càng đừng nên thích tôi, bởi vì… tôi có độc!”

“Độc?”

Tư Vọng bất giác gật đầu.

“Xin em hãy nhớ cho kỹ, bất cứ người đàn ông nào, chỉ cần lại quá gần tôi, nhất định sẽ chết!”

“Tôi tin.”

Nước mắt đã bị gió thổi khô tự bao giờ, sắc mặt cô dưới ánh trăng chẳng khác nào ma nữ, cô phát ra âm thanh từ cuống họng: “Tắt đèn rồi quay lại phòng ngủ đi, đừng vi phạm nội quy quản lý ký túc xá của nhà trường.”

Nói đoạn, Tiểu Chi quay đầu xông ra cửa, để lại cậu một mình trên sân thượng tầng 4. Ở bên kia, đối diện với sân vận động, căn gác nhỏ bí ẩn trong thư viện lại một lần nữa sáng đèn.

Chương 12

Thanh minh.

Mười bảy năm sau khi Thân Minh chết, Thân Viện Triều luôn nghiên cứu những kẻ sát nhân biến thái điên cuồng, thậm chí đến cả những thi thể, quan tài và phần mộ cũng đều không chút kiêng kị.

Lại là một ngày mưa âm u ẩm ướt, vườn hoa cải dầu vàng kim đã bao kín nghĩa trang. Trên bia mộ có gắn một bức ảnh trang trọng, bên dưới có dòng chữ: “Phần mộ liệt sĩ Hoàng Hải” – theo lý mà nói, phần mộ của anh phải được đưa vào trong nghĩa trang liệt sĩ, nhưng di nguyện của anh khi còn sống là mong được mãi mãi cận kề bên cậu con trai mất sớm, nên gia quyến đã an táng anh ở khu nghĩa trang dân thường ở khu ngoại ô.

Thân Viện Triều che chiếc ô đen, ôm một đóa cúc vàng lớn, và ngay lập tức nhìn thấy Tư Vọng đứng trước phần mộ. Cậu thiếu niên nghi hoặc quay đầu lại, ba nén hương cậu cầm trong tay khẽ rung lên.

“Nhất định bác sẽ bắt được con ác quỷ đó rồi tự tay giết chết hắn.”

Những lời ấy phát ra từ khóe miệng Thân Viện Triều, mái tóc ông bạc hơn trước, ánh mắt lại càng thâm trầm đáng sợ hơn.

“Cháu à, cháu đã cao lên rồi, bác đến quét mộ cho bố cháu đây.”

Ông vẫn cứ tưởng người nói chuyện với mình là con trai của Hoàng Hải, Tư Vọng quyết định diễn tới cùng: “Kiểm sát Thân, cảm ơn bác!”

Thân Viện Triều nắm chặt bàn tay lạnh lẽo như người chết của cậu thiếu niên rồi quay sang bia mộ của cảnh sát Hoàng Hải nói: “Anh Hoàng, tôi không kịp về dự tang lễ của anh, nhưng tiết Thanh minh tôi vẫn muốn đến thăm anh. Dù bao năm qua anh đã bác bỏ tất cả những manh mối tôi lao tâm khổ tứ tìm ra, tôi vẫn vô cùng cảm ơn anh.”

“Bố cháu đã nghe thấy rồi, ông ấy trên trời có linh thiêng, nhất định sẽ phù hộ cho cháu bắt được hung thủ.”

“Nhưng cháu còn quá trẻ.”

“Bố cháu thường kể cho cháu nghe về một bộ phim nọ, có cậu con trai của một viên cảnh sát chính trực ở miền nam nước Mỹ thời những năm 50, 60 của thế kỷ 20, khi mà chủ nghĩa phân biệt chủng tộc còn đang hoành hành. Nhân vật chính đã mấy lần đọc một bài thơ, cháu nhớ là nó như thế này: Tôi – chủ nhân vận mệnh chính mình, là người thuyền trưởng linh hồn chính tôi. Bộ phim ấy tên là “Kẻ không thể chinh phục”, bài thơ ấy là của nhà thơ William Ernest Henry thời Victoria.

“Con trai, ý cháu là gì?”

Thần trí Tư Vọng có phần quái dị: “Kiểm sát Thân, bác thân thiết hơn trong tưởng tượng của cháu rất nhiều, bác là một người tốt.”

“Bác về hưu lâu rồi mà, công tác trong ngành kiểm sát bốn chục năm, là người Đảng viên, khi tự vấn lương tâm, bác không thấy có gì hổ thẹn. Con trai, tạm biệt!”

“Để cháu tiễn bác!”

Ông liếc nhìn bia mộ lần cuối cùng, bỗng giật mình khựng lại, thì ra bên dưới tên của Hoàng Hải khắc một dòng chữ màu đen tưởng niệm người đã khuất: “Con trai Hoàng Chi Lượng”.

Nếu như Hoàng Hải còn có người con nào khác thì đúng là sẽ phải viết tên lên bia mộ, chỉ có điều nếu người đó còn sống, bắt buộc phải viết bằng mực đỏ – ấy vậy mà trên bia mộ chỉ có cái tên “Hoàng Chi Lượng” màu đen.

Tư Vọng luống cuống lùi lại phía sau hai bước, sau lưng cậu chính là ngôi mộ của Lượng.

Dù tuổi tác đã cao nhưng Thân Viện Triều vẫn nhìn rõ dòng chữ “Phần mộ Hoàng Chi Lượng” phía sau lưng Tư Vọng. Ông tiến lại gần xem thì thấy trên bia mộ Hoàng Chi Lượng có hàng chữ “Bố Hoàng Hải khóc lập”, năm sinh năm mất là 1994 -2004.

Trên bia mộ của Lượng có một tấm ảnh bằng sứ, gương mặt của cậu bé 10 tuổi chết vì bệnh máu trắng ấy quả nhiên có vài phần giống Tư Vọng, cho nên, Thân Viện Triều liền triệt để tin rằng chàng thiếu niên đang đứng trước mắt mình chính là đứa con tám năm trước đã qua đời của Hoàng Hải.

“Cậu… cậu…”

Răng ông đánh vào nhau run rẩy, gương mặt Tư Vọng sa sầm, những lời nói ra chẳng khác gì của người đã chết: “Đúng vậy, cháu chính là Hoàng Chi Lượng, tám năm trước chết vì bệnh máu trắng. Cháu muốn bác biết rằng, trên đời này có người sau khi chết đi vẫn có thể hồi sinh.”

Chương 13

Rảo bước đến ngõ nhỏ của khu dân nghèo, Diệp Tiêu nghiêng người quét mắt nhìn bốn phía, nơi nơi đều là nhà cửa cũ nát, lều bạt tạm bợ, dưới cửa sổ nhiều nhà treo biểu ngữ phản đối cưỡng chế di dời, còn có người đang xây dựng công sự, chuẩn bị chiến đấu tới cùng. Tiệm cắt tóc nhỏ tối tăm đã bật ngọn đèn màu đỏ, vài gã trai giang hồ ngồi xổm bên vệ đường hút thuốc. Anh mặc thường phục nên không ai nhận ra anh là cảnh sát, chỉ có điều trên trán anh quấn băng trắng, khóe mắt lại có vết thâm to, cứ đi một bước là ngực lại đau nhức nhối.

Tư Vọng đã đợi anh trong quán mì nhỏ từ bao giờ, cậu thiếu niên 17 tuổi lại trưởng thành hơn, vai bắt đầu rộng ra, lồng ngực và cánh tay càng ngày càng lộ rõ cơ bắp, không còn ai dám chặn đường trấn lột hay trêu ghẹo cậu nữa.

“Anh sao thế?” Tư Vọng thận trọng nhìn quanh, “Ai làm anh bị thương?”

“Có biết vụ cao ốc Mộng tương lai – Future Dream không?”

“Cả thế giới này đều biết.”

“Sau đó tôi bị vùi sâu dưới hơn một trăm mét đất, suýt nữa mất mạng!”

“Nếu anh chết rồi thì còn cảnh sát nào giúp được tôi nữa đây?”

Cậu trò chuyện với viên cảnh sát cực kỳ bằng vai phải lứa, Diệp Tiêu cũng không để ý, hai người gọi hai bát mì thịt dê Tô Châu.

“Sao không cho tôi đến nhà cậu?”

“Bởi vì trước kia Hoàng Hải thường tới nhà tôi, sau đó ông ấy qua đời, tôi không muốn thấy anh và ông ấy có cùng một kết cục.”

“Lý do này hay đấy! Mẹ cậu thế nào rồi?”

“Vẫn đang phiền muộn vì vụ giải tỏa, tiền đền bù của sở tài nguyên chẳng đủ để mua một cái nhà vệ sinh ở đô thị, mẹ tôi cả ngày thở vắn than dài, lo lắng không biết sau này hai mẹ con sẽ sống ở đâu?”

Diệp Tiêu chỉ chỉ vào hai múi cơ trên bắp tay cậu: “Luyện được ở đâu thế?”

“Câu lạc bộ võ thuật, tổ chức từ thiện của những người yêu võ tự do, tôi học võ tự do và Thái Cực quyền, miễn phí, chỉ cần chịu đòn được là đủ. Có lúc mẹ thấy tôi mặt mày sưng húp tím tái trở về, tôi đành bảo rằng mình bị ngã xe. Nghe đồn năm nay sẽ tới ngày tận thế, đối với người chết được hoàn hồn như tôi mà nói thì cũng chẳng có gì đáng sợ, chỉ sợ đời này không bắt được hung thủ sát hại mình, tôi chẳng muốn lần sau khi gặp lại Lộ Trung Nhạc lại bị hắn giết.”

“Tôi sẽ không để cậu gặp hắn ta đâu.” Ngồi trong góc sâu của tiệm mì nhỏ huyên náo đầy dầu mỡ, Diệp Tiêu mình đầy thương tích lại càng lộ rõ chất đàn ông. Anh gắp sợi mì rồi nói: “Đợi vết thương của tôi lành hẳn, rảnh rỗi hai ta luyện tập xem sao.”

“Nhưng ai dám đảm bảo rằng không có lần chuyển thế tiếp theo, vượt qua sông Vong Xuyên, uống bát canh bà Mạnh, vẫn có thể nhớ được chuyện kiếp trước và cả kiếp trước nữa thì sao? Huống hồ lục đạo luân hồi còn có cả đạo súc sinh, nếu đầu thai vào bụng con trâu con ngựa hay vào chó Husky, Labrado thì…”

Vẻ mặt viên cảnh sát sa sầm, khiến cho người ta nhìn vào mà e sợ: “Một tuần trước tôi đã đến nhà Thân Viện Triều, mượn ông ấy cuốn “Thép đã tôi thế đấy” có bút tích của Thân Minh, rồi mang nó cùng với tờ giấy có câu danh ngôn của Pavel Korchagin cậu viết tại nhà tôi đến gặp chuyên gia phân tích nét chữ của trường đại học Cảnh sát để so sánh. Kết quả giám định chứng minh, hai bút tích đó là do cùng một người viết ra.”

“Diệp Tiêu, anh thật thông minh, đây chính là cách tốt nhất để chứng minh tôi chính là Thân Minh.”

“Giám định bút tích có chính xác đến thế nào đi nữa, vẫn có một phần nghìn sai sót, tôi vẫn giữ nguyên câu nói đó – trên đời này không có ma quỷ.”

“Nhưng tôi không phải ma quỷ.”

“Nhóc con, tôi không muốn tranh luận với cậu về những chuyện đó nữa, tôi đến là để cảnh cáo cậu – đừng có mạo danh con trai của Hoàng Hải trước mặt Thân Viện Triều nữa, chẳng hay ho gì đâu, vừa không tôn trọng bố con Hoàng Hải đã qua đời, mà còn lừa dối người kiểm sát già về hưu tội nghiệp, nếu trên người cậu thực sự có linh hồn của Thân Minh, vậy thì cậu càng không nên nói ra những lời nói dối đó.”

“Ông ấy kể cho anh sao?”

“Đúng vậy, Thân Viện Triều nói lễ Thanh minh ông ấy đi quét mộ cho cảnh sát Hoàng Hải, kết quả lại phát hiện cậu con trai đã chết của cảnh sát Hoàng Hải cũng ở đó, hơn nữa đứa trẻ đã chết tám năm về trước lại lớn lên thành một thiếu niên cao lớn, giờ đây đang khổ sở tìm kiếm hung thủ đã sát hại Thân Minh, đồng thời báo thù cho bố mình.”

“Xin lỗi, tôi cũng không ngờ ông ấy lại tin những lời tôi nói.”

“Kiểm sát Thân giờ đã tin tưởng cậu, không một chút nghi ngờ! Ông ấy tin chắc rằng cậu là con trai của Hoàng Hải sống lại, lại còn dần lớn lên – ông ấy còn nói ông ấy đang tìm cậu.”

“Tôi…” Tư Vọng không nuốt nổi mì nữa, cậu đặt đũa xuống, “Anh có nói ra sự thật không?”

“Suýt nữa thì buột miệng nói ra! Nhưng tôi chợt nghĩ, nếu như để ông ấy biết, có một cậu học sinh tên Tư Vọng mạo nhận là con trai của cảnh sát Hoàng Hải, lỡ như ông ấy làm to chuyện, kinh động đến gia đình hay trường học của cậu thì cậu sẽ rất thê thảm. Nếu để mẹ cậu biết thì…”

“Tuyệt đối không!”

“Thế thì cậu nên cảm ơn tôi đi, tôi bảo với ông ấy rằng đó chẳng qua chỉ là ảo giác của ông ấy mà thôi, nhưng ông ấy gọi cả con gái ra làm chứng, cô bé đó là em gái được sinh ra sau khi Thân Minh qua đời, cô ấy cũng nhìn thấy cậu đến nhà hôm Trung thu.”

“Xin lỗi anh.”

“Đừng có đến tìm ông ấy nữa! Cậu cứ như vậy sẽ hại chết ông ấy mất!”

“Ông ấy là bố của tôi kiếp trước, tôi sẽ không để cho ông ấy gặp nguy hiểm.”

Diệp Tiêu uống nốt ngụm canh cuối cùng: “Tư Vọng, cậu cũng sẽ hại chết chính mình nữa.”

Chương 14

Thân Viện Triều không còn gặp lại linh hồn của con trai Hoàng Hải nữa.

Một tháng sau, tiết trời đã trở nên nóng bức, chuyến xe bus giờ cao điểm buổi chiều nồng nặc mùi mồ hôi, một cô nữ sinh buộc tóc đuôi ngựa ngồi bên cửa sổ làm bài tập tiếng Anh, chỉ vài hôm nữa thôi là đến kỳ thi học kỳ rồi.

Ngoài cửa xe là vô vàn các thể loại đèn xanh đèn đỏ, quán xá san sát, có người nhìn thấy gương mặt cô từ kính phản quang, quả nhiên mỗi năm lại thêm xinh đẹp, gương mặt trắng muốt hơi non nớt tựa chỉ cần chạm khẽ là sẽ vỡ tan.

Thân Mẫn đột ngột quay đầu lại nhìn anh ta.

Trong xe chen chúc chật chội có một cậu thiếu niên mặc đồ thể thao, phải giữ chặt tay cầm mới không bị chen ngã. Cô nhớ mặt anh ta, người đã đến nhà cô tết Trung thu năm ngoái.

Bốn bề đều là người, không còn đường lui nữa, cậu yếu ớt nói một câu: “Xin chào.”

Cô giả vờ như không nghe thấy, cúi đầu tiếp tục làm bài tập, nhịp tim đập nhanh đến phát sợ.

Xe bus lại vào một trạm nữa, cậu thiếu niên không nhịn được nữa bèn nói: “Tối lắm, đừng viết nữa.”

Ngoài cửa xe sáng lên biển hiệu của Hailidao, đuôi ngựa của cô khẽ run, cô buông bút trong tay xuống rồi mà vẫn chưa ngẩng đầu lên nhìn anh. Không khí trong xe bí bách ngột ngạt, gương mặt Thân Mẫn nóng bừng, thúc giục cô nhìn ra ngoài cửa xe – qua khe cửa, giữa vô số những gương mặt mệt mỏi đờ đẫn là đôi mắt của một người đàn ông.

Một người đàn ông trung niên để kiểu tóc bình thường không để lại ấn tượng gì cho người khác, chỉ có duy nhất một cái bớt xanh trên trán. Đột nhiên ông ta nghiêng người chen ra trước cửa xe, vừa hay xe vào bến.

“Đứng lại!”

Cậu thiếu niên cũng nhìn thấy người đó, cậu hét lên một tiếng thất thanh rồi đẩy hai bà phụ nữ gần đó ra, lao mình ra cửa sau.”

“Có bệnh à?”

“Muốn chết hả!”

“Ui da! Đau chết tôi rồi!”

Xung quanh vang lên đủ loại âm thanh, cậu thiếu niên khó khăn lắm mới chạy được vài bước, cửa xe đã mở ra, gã kia xuống xe nhanh như cắt, rồi lại có ngay một đám người đi làm về lấp chỗ trống, nườm nượp xô lên như dòng nước đẩy cậu về chỗ cũ.

“Đừng đóng cửa!”

Chính lúc cậu gào lên như phát điên thì cửa xe đã đóng mất rồi, nữ tài xế vừa càu nhàu vừa khởi động xe, những hành khách khác thì dùng ánh mắt nhìn kẻ bị tâm thần hướng về phía cậu.

Thân Mẫn sợ hãi nhìn ra ngoài, người đàn ông đó bình tĩnh đi trên vệ đường, dõi mắt theo chiếc xe bus đang đi xa dần, cho đến mất hút hẳn ở ngã tư tiếp theo.

Trên chuyến xe đầy những ánh mắt lạnh lùng, cô đứng dậy, bước đến bên cạnh cậu thiếu niên đang thở hồng hộc. Qua hai bến nữa, hai người cùng xuống xe.

“Sao cậu lại phải đuổi theo người đó?”

Trong đêm đen, ở trạm xe bus, vẫn là Thân Mẫn chủ động bắt chuyện, cậu ho khan hai tiếng: “Ồ, tôi thấy gã đó móc ví người ta.”

“Oa, cậu còn biết bắt kẻ trộm nữa sao?”

“Mọi người vì tôi, tôi vì mọi người!”

Cô bé xinh đẹp dường như không thốt nên lời.

“Cảm ơn cậu!”

“Cảm ơn gì cơ? Hắn cũng không móc ví của cậu mà.”

“Tôi đang nói về tết Trung thu năm ngoái, lúc cậu đến nhà tôi, thắp hương cho anh trai tôi!”

“Ừm, đấy là việc tôi nên làm mà, nhất định tôi sẽ bắt được hung thủ sát hại anh trai cậu!”

Phía sau bến xe có rất nhiều quán hàng nhỏ bao vây những thực khách rỗng bụng về muộn, mùi mê hoặc của các món chiên rán tỏa thơm lừng. Cậu tiến về phía một quán đậu phụ thối chiên giòn: “Cậu đã đói chưa?”

“Hơi hơi.”

Thiếu niên mua mấy miếng đậu phụ nóng hôi hổi, chia cho cô cùng ăn.

Thân Mẫn vừa ăn vừa nhìn cậu chăm chú, cậu ngượng nghịu cúi đầu: “Tôi có gì hay đâu mà nhìn?”

“Tôi cứ có cảm giác cậu quen quen, dường như hồi nhỏ đã từng gặp cậu ở đâu rồi thì phải? Để tôi nhớ xem là năm nào? Phải rồi, hồi học trường tiểu học số 1 trên đường Trường Thọ, cậu học lớp B, tôi học lớp C, rất nhiều người bảo rằng cậu là thần đồng, nhưng chỉ có một mình tôi chơi với cậu.”

Cậu bé tên là Tư Vọng đó đã để lại hồi ức vô cùng khó phai trong ký ức tuổi thơ của cô.

“Đúng, chính là tôi! Cậu vẫn còn nhận được ra tôi ư! Đến chính tôi khi xem lại ảnh hồi đó còn chẳng thể nhận ra chính mình nữa là.”

“Tốt rồi, cuối cùng cậu đã xuất hiện!” Thân Mẫn truy hỏi, “Tôi nhớ hồi đó câu bảo, cậu tên là Tư Vọng, Tư trong tư lệnh, Vọng trong thiêu vọng, thế mà sao bố tôi lại bảo rằng cậu họ Hoàng?”

Trong một giây đồng hồ cậu đã đưa ra lựa chọn của mình: “Xin lỗi, tôi đã lừa cậu, cái người tên là Tư Vọng đó đã chết rồi!”

“Tư Vọng không phải là tên cậu, mà chỉ là biệt danh thôi sao?”

“Đúng vậy, thực ra tôi tên là Lượng, còn có một tên khác nữa là Tiểu Minh.”

Em gái cậu vừa ăn đậu phụ vừa nói: “Khoan khoan, tôi cũng tên là Tiểu Mẫn đấy[22]!”

“Tôi là Minh trong từ “ngày mai” cơ.”

“Vậy tại sao Lượng lại có thêm tên là Tiểu Minh nữa?”

“Cậu đúng là đồ một vạn câu hỏi vì sao! Thôi được, tôi nói cho cậu biết, cậu biết Gia Cát Lượng chứ?”

“Hứ, hỏi thừa!”

“Tên tự của Gia Cát Lượng là gì?”

Đôi mắt cô mở to, đáng yêu đến mức khiến người ta phát điên: “Khổng Minh – cho nên Lượng cũng là Tiểu Minh?”

“Coi như cậu thông minh!”

“Nhưng mà bố tôi bảo cậu là người đã chết.”

“Bố cậu nói đúng, tôi đã chết tám năm trước rồi, năm đó tôi 10 tuổi.”

“Cậu nói dối!”

“Được thôi, tôi nói dối.”

Cậu cứ nửa đùa nửa thật như thế khiến cho Thân Mẫn càng lúc càng bất an, cô lùi lại hai bước: “Tôi về nhà đây.”

“Công an đến đấy!”

Có ai đó hô lớn. Chỉ trong chớp mắt các chủ quán hỏa tốc đẩy xe hàng của mình chạy như bay về phía bóng đêm. Sau phút hỗn loạn đó, không còn thấy bóng dáng cậu thiếu niên bí ẩn đâu nữa, Thân Mẫn hoang mang lẩm bẩm hai cái tên: “Tư Vọng? Tiểu Minh?”

Chương 15

Ngày 19 tháng 6 năm 2012, ngày giỗ thứ mười bảy của Thân Minh.

Vầng trăng non treo lơ lửng trên nền trời, xuyên qua con ngõ nhỏ trên đường Nam Minh, giữa nền móng của hai tòa nhà mới xây sẽ thấy được khu nhà xưởng hoang phế. Dưới những ống khói cao chót vót là những bụi cỏ um tùm vang vọng tiếng côn trùng vo ve và tiếng ếch kêu ộp oạp. Chui qua khu xưởng ọp ẹp, ánh sáng đèn pin cứ rọi thẳng mãi đến lối đi ngầm loang lổ.

Khu Ma nữ.

Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy… nhẩm đúng bảy bước, vừa hay là đầu kia của đường hầm, đối mặt với một cánh cửa kim loại dày cộp có nắm cửa hình tròn, bên trên chăng đầy mạng nhện.

Hít sâu.

Tưởng tượng ra thi thể nằm giữa đống máu me của thầy Thân Minh, thân xác 25 tuổi giờ rữa nát… cô không dám mở cửa.

Đúng 10 giờ.

Trèo lên được mặt đất của khu nhà xưởng hoang phế, cô nửa ngồi nửa quỳ, mở túi giấy mang theo người, lôi ra một ít vàng mã màu trắng bạc, rồi nhóm lên một đốm lửa. Người đang ngồi đốt những những đồ vàng mã dành cho người âm ấy là một cô gái mặc váy trắng, mái tóc đen xõa xuống che nửa gương mặt, những ngón tay mảnh dẻ cứ chốc chốc lại tiến gần vào ngọn lửa. Cô không phải là Nhiếp Tiểu Sảnh trong “Sảnh Nữ u hồn”, cũng không phải là ma nữ hay hồ ly tinh trong truyền thuyết, chỉ là trẻ đến mức không khác gì yêu tinh – chẳng trách bạn học đều gọi cô là “Hiện thân của thần tiên tỉ tỉ”. Thì ra, cô chưa từng lỗi hẹn, chỉ tiếc đã muộn mất mười bảy năm mà thôi.

Ánh lửa nhuộm hồng gương mặt cô gái, cô cẩn thận vuốt phẳng nếp váy, tránh bị lửa bén vào. Vài mẩu trò tàn bay liệng trước mắt, nước mắt từ má cô lã chã rơi xuống ngọn lửa, phát ra những tiếng ì xèo của hơi nước bốc lên.

Bỗng phía sau có tiếng động gì đó – ai đang khóc vậy?

Âu Dương Tiểu Chi quay ngoắt đầu lại, trong giây phút đó, cô thấy bóng người đứng dậy từ lối ngầm đi vào khu Ma nữ, tựa như người chết sống lại. Chàng thiếu niên 17 tuổi Tư Vọng.

Cô khẽ kêu lên một tiếng bi thảm tới mức làm cho tất cả u hồn dã quỷ ở chốn hoang vu này phải sợ hãi lùi bước. Cô đưa ống tay áo lên bưng lấy mặt: “Em… sao em lại ở đây?”

“Tiểu Chi.”

Đợt thi cuối kỳ của lớp 10 đã kết thúc từ tuần trước, chỉ còn một mình Tư Vọng chưa rời trường. Cậu bước qua đám lửa đốt vàng mã, chậm rãi nhích lại gần chiếc váy trắng của cô như thể muốn lột bỏ lớp da của yêu quái.

“Không được đụng vào tôi!”

Cậu túm chặt lấy đôi bờ vai đang giãy giụa của cô giáo: “Đừng sợ! Có tôi đây rồi!”

“Tư Vọng, em điên rồi sao?” Cô lại một lần nữa ngẩng cao đầu, trở về với dáng vẻ một giáo viên đang nghiêm khắc tra hỏi: “Đã nghỉ hè rồi, sao em còn chưa về nhà? Nửa đêm đến đây làm gì?”

“Câu hỏi này, phải để em hỏi cô mới đúng.”

Cậu thiếu niên nhìn thẳng vào mắt cô, nước mắt chưa khô vẫn long lanh trên khóe mi, cho tới tận khi đám lửa sau lưng cô tắt hẳn, chỉ còn lại tro tàn màu vàng và đen.

“Đó không phải là việc của em, khi anh ấy chết, em vẫn còn chưa ra đời.” Cô lại một lần nữa liều mạng giãy giụa: “Buông tay tôi ra!”

Tư Vọng giờ đã mạnh mẽ hơn rất nhiều, đôi bờ vai vững chãi không chút suy suyển, năm đầu ngón tay như thép kẹp chặt lấy cổ tay cô: “Có còn nhớ Câu lạc bộ thơ Chết không?”

Nghe được giọng nói trầm tĩnh của cậu, trái tim Tiểu Chi đập điên cuồng, cô nhìn về phía cánh cửa đường hầm rồi quay lại lắc đầu: “Em đang nói về bộ phim Mỹ kinh điển nào à?”

Khi cô còn học cấp 3, tại tòa nhà tổng hợp, thầy giáo ngữ văn Thân Minh từng chiếu bộ phim này cho học trò xem, vì thế mà bị hiệu trưởng và chủ nhiệm giáo vụ phê bình.

“Không chỉ có thế đâu, cô quên rồi ư?”

Tư Vọng cất giọng trong trẻo ngâm: “Từ ngày mai, tôi sẽ làm một người hạnh phúc/ Nuôi ngựa, đốn củi, ngao du khắp nơi/ Từ ngày mai, tôi sẽ để tâm đến đồ ăn và rau củ/ Tôi có một căn nhà, bốn bề là biển lớn, xuân tới hoa cười.”

Răng cô bắt đầu đánh vào nhau lập cập, đêm Thanh minh năm 1995, thầy Thân Minh đã dắt cô cùng với Mã Lực, Liễu Mạn trèo tường ra khỏi trường, tiến vào khu Ma nữ dưới lòng đất, ngâm vịnh những bài thơ của Hải Tử.

Câu lạc bộ thơ Chết của thầy Thân Minh là như thế đấy, nó là bí mật của bốn người bọn họ, đến cả vợ chưa cưới của thầy cũng không biết, lỡ như bị lãnh đạo nhà trường phát hiện, ở cương vị chủ nhiệm, thầy rất có thể sẽ bị đuổi việc.

Ý nghĩa của khu Ma nữ đối với bốn người bọn họ mà nói, không phải là một chốn bí mật đáng sợ, mà là Câu lạc bộ thơ Chết.

Hai tháng sau, hai thành viên trong câu lạc bộ lần lượt liên tiếp qua đời, một người chết trên đỉnh nóc thư viện, một người chết ở tầng hầm khu Ma nữ.

“Khi đó, hai nhà thơ mà Câu lạc bộ thơ Chết thường xuyên ngâm vịnh nhất chính là Hải Tử và Cố Thành, cả hai người này đều đã qua đời, một người nằm trên đường ray xe lửa tự vẫn, người còn lại đã dùng rìu chém chết vợ rồi sau đó tự sát trên một hòn đảo nhỏ ở Nam Thái Bình Dương.”

“Em đang ám chỉ cái chết của thầy Thân Minh năm đó ư?”

“Ngày 19 tháng 6 năm 1995, cô cũng ăn mặc như thế này.”

Cô cúi đầu nhìn xuống chiếc váy trắng của mình, rồi lại nhìn chằm chằm vào mắt cậu: “Em… rốt cuộc em là ai?”

“Tiểu Chi, nếu như tôi nói với em rằng – tôi là Thân Minh, liệu em có tin không?”

Giọng nói ấy vọng ra từ cổ họng, ánh mắt của cậu lúc này hoàn toàn thuộc về một người đàn ông 35 tuổi.

“Không!”

Cho nên, cậu lạnh lùng đọc lại một đoạn thoại:

“Thầy Thân.”

“Đừng nói chuyện với tôi, càng không được đến gần tôi, tôi giờ đã không còn là thầy giáo nữa rồi.”

“Nghe nói, ngày mai thầy sẽ không ở trường chúng ta nữa, khi nào thì thầy đi ạ?”

“Tối nay, tám giờ.”

“Thầy có thể đi muộn hơn một chút được không? Mười giờ tối nay, em sẽ đợi thầy ở khu Ma nữ.”

“Khu Ma nữ? Có việc gì quan trọng sao?”

“Em có một số việc muốn nói với thầy, ban ngày e là không được tiện lắm.”

“Được rồi,, tôi đồng ý với em, vừa vặn tôi cũng có điều muốn nói với em.”

“Đúng 10 giờ, gặp nhau ở cửa khu Ma nữ!”

Chiều ngày 19 tháng 6 năm 1995, ngày cuối cùng Thân Minh còn sống, đó là đoạn đối thoại cuối cùng của anh trước bức tường rào của sân vận động trường.

“Câm miệng… không… dừng lại đi… xin cậu… đừng nói tiếp nữa… cầu xin cậu…”

Cô bịt chặt tai, miệng không ngừng lắp bắp.

“Tiểu Chi, cũng vào tối này mười bảy năm trước, đúng 10 giờ, tôi đã đến, nhưng lại chẳng thấy em đâu.” Tư Vọng buông cánh tay cô ra, khẽ vuốt tóc cô, “Cái đêm trời mưa to bão lớn đó, rốt cuộc em… có tới hay không?”

Không cất nổi lời nào nữa, cô chỉ còn biết ra sức lắc đầu.

“Em không đến?” Cậu ngửi mùi hương trên tóc cô, “Được, tôi tin em.”

“Hãy để tôi đi!”

Chui ra khỏi khu nhà xưởng bẩn thỉu, vành trăng khuyết đã dần mờ nhạt, thay vào đó là bầu trời sao mênh mang của khu ngoại ô, khiến người ta nhớ lại mùa xuân của mười bảy năm trước, thầy giáo Thân Minh cùng với đám học trò ngồi trên bãi cỏ dại ngắm những vì sao rơi.

Bỗng nhiên, tà váy của Âu Dương Tiểu Chi lay mạnh, cô cố xông ra bên ngoài, nhưng cổ tay lại bị Tư Vọng giữ chặt.

Cậu học sinh thở dốc, kéo cô giáo chạy như bay về bến tàu điện ngầm, nhưng cuối cùng vẫn lỡ mất chuyến tàu cuối.

Tiểu Chi vẫy một chiếc taxi, Tư Vọng giữ chặt cửa xe không chịu buông, ánh mắt cô run rẩy nhưng lời nói ra vẫn nghiêm khắc vô cùng: “Buông tay ra! Để tôi về nhà!”

Ngày 19 tháng 6 năm 2012, 10 giờ 45 phút tối, cô ngồi trên chiếc taxi đi xa dần, cách lớp cửa kính mờ mờ nhìn về phía bầu trời không một bóng sao, trong đầu hiện lên khu Ma nữ mười bảy năm trước – trên mặt đất lạnh lẽo âm u, thầy Thân Minh cùng các thành viên Câu lạc bộ thơ Chết ngồi xung quanh vài cây nến trắng, tựa như đang tham gia nghi thức hiến tế cổ xưa nào đó, trên tường phản chiếu những cái bóng lung lay chẳng khác gì bích họa của những người tiền sử. Âu Dương Tiểu Chi mặc chiếc áo len to màu trắng giọng đầy cảm xúc ngâm bài thơ của Cố Thành: “Trời màu xám/ Đường màu xám/ Nhà màu xám/ Mưa màu xám…”

Chương 16

Thất tịch.

Trường học tổ chức du lịch mùa hè dành riêng cho học sinh sắp lên lớp 11, nơi đến là một hòn đảo gần đó, đồng thời cũng là một khu du lịch nghỉ mát nổi tiếng. Trên đường đến hơi tập hợp, Tiểu Chi gặp một đoàn biểu tình chống hàng Nhật, tất cả đều treo khẩu hiệu: “Bảo vệ đảo Điếu Ngư”, xe taxi bị tắc nghẽn không đi tiếp được, đành tắt máy dừng lại trước ngã tư ào ạt người biểu tình. Có chàng thanh niên có vẻ là sinh viên đại học dán ngay một tấm biểu ngữ chống hàng Nhật trên cửa kính xe taxi. Cô lại nhớ đến thầy Thân Minh mười bảy năm trước, thỉnh thoảng khi nói về lịch sử Trung Quốc đương đại, thầy cũng rất nhiệt tình bày tỏ lòng yêu nước, có hôm còn lĩnh xướng cho cả lớp hát bài “Phong thái hiên ngang nhuộm máu đào”.

Phút cuối, cô lao ra đường.

Ngày nóng nực nhất của năm 2012, cả khóa học sinh gồm bốn lớp, hơn một trăm người gồm cả giáo viên chủ nhiệm và các giáo viên chính khác cùng nhau bước lên du thuyền. Lần tham quan này học sinh phải tự trả chi phí, nhưng đám trẻ tiêu tiền của bố mẹ thì nào có tiếc bao giờ, chúng tụ tập lại, hào hứng trò chuyện trên trời dưới biển, chia sẻ kinh nghiệm du lịch với nhau. Có học sinh vừa du lịch tự túc từ Đài Loan về, có em mỗi năm đến kỳ nghỉ hè đều đi Disneyland Hong Kong, có em khác đã từng theo bố mẹ đi du lịch vòng quanh châu Âu.

Tiểu Chi đứng ở cuối tàu, tách ra khỏi đám đông, nhìn về phía Tư Vọng đứng cách đó hơn mười mét. Cậu nằm bò ra lan can ngắm dòng nước cuồn cuộn chảy. Vô số hải âu chao liệng bên người. Bốn bề xung quanh nồng đượm mùi muối mặn, cậu vươn tay ra che mắt, sau lưng lại nổi lên tiếng thì thào của đám bạn học: “Đồ dở hơi!”

Tư Vọng tách mình ra khỏi các bạn, đến bên cạnh bóng dáng cô độc của Tiểu Chi. Dưới ánh mặt trời, gương mặt trắng sứ của cô lấp lánh, bất chợt khiến cho các cô giáo khác phải cảm thán thời gian sao quá vô tình.

“Lần đầu tiên em thấy biển có phải không?”

Cô vô thức hỏi khẽ, ánh mắt vẫn dính chặt vào làn nước biển đục ngầu.

“Đúng vậy, em giống như ếch ngồi đáy giếng vậy, mười bảy năm nay chưa từng rời khỏi thành phố này, cũng chưa từng cảm thấy có gì phải tiếc nuối – có lẽ ý nghĩa của du lịch chẳng qua chỉ là thêm một kiểu sống vào nếp sống bình dị thường nhật mà thôi. Nhưng với người vẫn còn mang theo ký ức của kiếp trước như em, thì đã trải qua hai cuộc đời, cũng coi như là một cuộc du lịch lâu dài.”

Tiểu Chi hơi phản cảm với những lời nói ra vẻ bí ẩn huyễn hoặc này, cô không nói tiếng nào quay đầu bỏ đi. Vài tiếng sau, du thuyền cập bến hải đảo. Đó là một hòn đảo nhỏ đầy những làng chài cùng với một rặng núi cao và bãi cát trắng muốt. Thầy và trò trọ tại nhà của các ngư dân. Thầy chủ nhiệm Trương Minh Trùng dẫn đầu đội ngũ, con người đam mê nhiếp ảnh ấy lia ống kính kỹ thuật số bấm chụp lia lịa, hầu như học sinh nào cũng phải rơi vào ống kính của thầy, chỉ trừ Tư Vọng.

Thầy An dạy chính trị cứ như ruồi bâu chặt lấy Âu Dương Tiểu Chi, còn cô thì vì phép lịch sự, cứ trả lời câu được câu chăng. Hiếm khi thấy cô mặc chiếc váy hoa, gió biển thổi tung làn váy làm lộ ra đôi chân thon dài trắng muốt khiến cho đám nam sinh phải lén nhìn, còn tụi nữ sinh thì lộ ra ánh mắt ghen tị.

Chương trình du lịch hải đảo quanh đi quẩn lại cũng chỉ có vậy. Dù có biết bơi hay không thì đám học trò cũng đều hớn hở mang đồ bơi xuống biển. Sau một quá trình rèn luyện thân thể và cơ bắp, Tư Vọng trở nên nổi bật hơn cả dưới ánh mặt trời, khiến cho đám nam sinh gầy guộc yếu ớt phải xấu hổ, nữ sinh lớp khác đều đến bắt chuyện, nhưng cậu lạnh lùng từ chối tất cả, một mình tìm vỏ sò trên bãi cát, đặt con ốc biển mà tương truyền có thể qua nó nghe được tiếng sóng lên vành tai. Tiểu Chi không mang đồ bơi theo, chỉ ngồi trò chuyện với mấy cô giáo khác làm bao người cảm thấy tiếc rẻ. Gió chiều trên đảo thổi mát lạnh, quét đi khí nóng oi ả ban ngày, nhiều người ăn hải sản xong bị đau bụng, kể cả Trương Minh Tùng và thầy giáo An, hầu hết đều nằm bẹp trong phòng không chịu ra ngoài hoặc túm năm tụm ba chơi bài ba cây.

Tiểu Chi hầu như không ăn gì cả, một mình dạo bước trong thôn chài, xuyên qua những ngóc ngách vắng người rồi chui qua bụi cây rậm rạp đi ra biển.

Trên biển mọc trăng vàng.

Cảnh tượng ấy khiến người ta mãi mãi chẳng thể quên, cô ngồi trên bãi cát, ngước mắt lên nhìn biển trời xanh thẫm và vầng trăng vàng tròn vành vạnh.

Bỗng nhiên có người từ phía sau ôm chặt lấy eo cô, Tiểu Chi gào thét giãy giụa, lại có một cánh tay khác mò lên. Cô dồn hết sức chống cự, thì ra là lũ lưu manh bờ biển, có vẻ không phải là dân chài địa phương.

“Buông cô ấy ra!”

Một thiếu niên lao ra từ phía bụi cây, mặt trăng rọi sáng gương mặt Tư Vọng, Tiểu Chi nhào tới bên cạnh cậu: “Cứu tôi với!”

Đối phương là bốn gã đàn ông, chúng cảnh cáo cậu đừng chuốc họa vào thân. Tư Vọng chẳng nói chẳng rằng tập tức ra tay, mấy gã khốn kiếp máu be bét. Tiểu Chi lo lắng cậu có một mình sẽ yếu thế, cô hét lên kêu cứu khắp nơi, nhưng bãi biển về đêm không một bóng người, tiếng thét của cô bị nhấn chìm giữa muôn vàn ngọn sóng.

Năm phút sau, đã có hai tên nằm sõng xoài trên đất, hai tên còn lại chân nam đá chân chiêu bỏ chạy. Tư Vọng kéo tay cô: “Chạy mau!”

Cô dám khẳng định đám khốn nạn ấy chạy đi gọi đồng bọn, ai mà biết được chúng sẽ kéo đến bao nhiêu tên?

Gió biển ào ạt thổi giữa đêm đen, làn tóc và tà váy cô tung bay như đóa hoa nở rộ giữa biển trời. Cô chỉ chạy được vài bước là hụt hơi, Tư Vọng gần như phải dìu cô lên một mỏm núi, lần đầu tiên cổ tay cô bị nắm đến đỏ rực.

Cuối cùng họ cũng chạy tới phía bên kia hòn đảo, nơi có bãi cát hoang chưa người khai thác, sẽ chẳng có kẻ nào đuổi tới nơi này.

Ánh trăng dõi theo bóng họ, nước biển dâng lên mỗi lúc một cao, những ngọn sóng bạc đầu nghịch ngợm nhấn chìm bàn chân hai người, té lên ướt vạt váy cô. Trán và cánh tay Tư Vọng đang chảy máu, từng giọt từng giọt nhỏ tí tách xuống bãi cát dưới chân, dẫu vậy, cậu vẫn thẳng lưng đứng vững trước mặt cô. Cô cúi đầu thở dốc, mơ hồ nói một tiếng: “Cảm ơn!”

“Tại sao lại một mình ra đó?”

“Ở trong phòng bí bách quá, tôi muốn được một mình nghe tiếng biển.”

“Nghe tiếng biển?”

“Đúng thế, tôi đã nghe thấy rồi đấy.”

Tiểu Chi nhắm mắt lại lắng tai nghe, Tư Vọng xích lại gần cô, chỉ còn vài cen-ti-mét nữa thôi là đã có thể hôn lên đôi môi của cô rồi.

Cô đột ngột lùi lại nửa bước, kiểm tra vết thương của cậu: “Tư Vọng, nghe lời cô, em không nên đánh nhau nữa.”

Những ngón tay thon dài lướt qua vầng trán vương đầy máu nóng của cậu thiếu niên mười bảy bỏng rát. Dưới ánh trăng biển, gương mặt cô cũng tỏa ra ánh sáng khiến người ta chói mắt.

“Hoa nở khuyên người nhanh tay hái, đừng chờ hoa hết bẻ cành không.”

Tư Vọng khẽ lẩm nhẩm hai câu ấy, khiến cô nhớ lại một đêm xuân đầy đom đóm năm 1995, cô sánh vai dạo bước cùng thầy Thân Minh trên cánh đồng hoang đường Nam Minh, cũng khẽ khàng đọc “Áo kim tuyến” của Đỗ Thu Nương. Khi ấy, Âu Dương Tiểu Chi cả ngày mặt ủ mày chau, trong trường lại rộ lên tin đồn mới, giờ nghỉ trưa nữ sinh rỉ tai nhau, nam sinh ăn cơm trong nhà ăn cũng nghe thấy – rằng bố của Âu Dương Tiểu Chi không phải liệt sĩ gì cả, năm đó trong trận đánh trên vùng rừng núi, ông ta đào ngũ, bị sư trưởng dùng súng bắn chết, danh hiệu liệt sĩ chẳng qua là dùng tiền mua được. Còn mẹ cô là bà góa thường xuyên ra ngoài quyến rũ đàn ông…

Tiểu Chi vốn không phải đứa trẻ mồm mép, rất ít khi tám chuyện lăng nhăng, “chúng khẩu đồng từ ông sư cũng chết”. Cho dù cô có lấy chứng nhận liệt sĩ của bố cô ra cho họ xem cũng sẽ bị cho là đồ giả. Trừ bạn cùng bàn Liễu Mạn, trong lớp chẳng có nữ sinh nào chịu chơi với cô, nam sinh thì vẫn thường xuyên giúp đỡ lấy lòng cô, nhưng phản ứng của cô lạnh nhạt vẫn hoàn lạnh nhạt.

Ban đầu cô cũng là học sinh của một trường cấp 3 trọng điểm trong thành phố, nhưng môi trường đô thị phức tạp, thường xuyên có những gã lưu manh trẻ tuổi đứng ở cổng trường đợi cô, thậm chí đánh nhau vì cô. Trường học trở thành chốn thị phi, phụ huynh phản ánh bất bình, muốn nữ sinh này nhanh chóng chuyển đi, trong đó có một vị là lãnh đạo thành phố. Trường học phải chịu áp lực đáp ứng những yêu cầu quá đáng này, Tiểu Chi bị sắp xếp cho chuyển đến trường cấp 3 Nam Minh ở khu ngoại ô heo hút, đến đây cô mới có thể trốn xa khỏi lũ lưu manh ở trung tâm thành phố. Xung quanh một nữ sinh xinh đẹp bao giờ cũng đầy những lời ong tiếng ve, lời ra tiếng vào, cứ như mật ít mà ruồi thì nhiều vậy, những lời ấy đã trở thành sự bôi nhọ sỉ nhục, mưa dầm thấm lâu, giả cũng thành thật.

Ngày 23 tháng 8 năm 2012, ngày mùng bảy tháng bảy âm lịch, trên cô đảo nhỏ bé giữa muôn trùng sóng biển, bờ biển trải dài ngút ngàn khiến tầm mắt Âu Dương Tiểu Chi mơ hồ, cô vươn tay giữ phía nếp nhăn trên khóe mắt: “Xin lỗi, tôi hơi hoảng loạn… em không phải là anh ấy.”

Gió thổi mái tóc cô bay tán loạn, cô quay đầu để học sinh không thấy mình rơi lệ.

Tư Vọng vươn đôi tay đầy máu nóng sau trận ẩu đả đỡ lấy gương mặt cô, quay mặt cô về phía mình. Vết máu trên đầu ngón tay vẫn chưa khô, vài giọt dính vào cằm cô tựa như hoa mai nở rực giữa nền tuyết trắng xóa.

“Tiểu Chi, nhìn tôi này.”

Sóng biển khóc thất thanh, lệ ướt chảy vào khóe môi người con gái xinh đẹp, cô ghé sát vào tai chàng thiếu niên, hơi thở tựa hương lan: “Đưa tôi về đi, nếu có người hỏi vết thương trên đầu em, cứ nói là bị cành cây quệt rách da thôi nhé.”

Sững sờ một lúc rất lâu rồi ngón tay Tư Vọng mới từ gương mặt cô trượt xuống, đồng thời cũng giúp cô lau đi vệt máu đọng. Đêm nay Tiểu Chi ngủ cùng phòng với các giáo viên nữ khác, cô lặng nghe từng đợt sóng biển vỗ về bờ cát, tự đáy lòng cô thầm nhủ: “Anh ấy đã chết rồi…”

Chương 17

Gió thu xao xác.

Lớp 11, còn chưa đầy hai năm nữa thôi là đã đến kỳ thi đại học. Trong trường cấp 3 Nam Minh toàn những học sinh tài năng ưu tú và tất nhiên những cái đầu sắc bén ấy đều muốn được vinh danh trên các bảng vàng của các trường đại học danh tiếng, bởi thế mà mỗi ngày đều cặm cụi dùi mài, hăng say học tập.

Được tin Mạc Ngôn đoạt giải Nobel văn chương, mọi người càng thêm coi trọng giờ ngữ văn. Trên lớp Âu Dương Tiểu Chi vừa giảng xong tác phẩm trong sách giáo khoa “Lâm Đại Ngọc vào Giả phủ” thì buổi chiều Câu lạc bộ văn học đã thảo luận ngay chương năm trong “Hồng Lâu Mộng”:

“Chơi cõi ảo, mười hai thoa chỉ đường mê;

Uống rượu tiên, mộng lầu hồng diễn thành khúc.”

“Ai rằng vàng ngọc duyên ưa,

Ta quên cây đá, thề xưa được nào.

Trơ trơ người tuyết trên cao,

Ngoài đời đường vắng khuây sao được nàng.

Cuộc đời ngán nỗi tang thương,

Đẹp không toàn đẹp, lời càng đúng thay.

Dù cho án đặt ngang mày,

Cuối cùng vẫn thấy lòng này băn khoăn.”

Mấy chiếc lá khô nhẹ bay xuống ô cửa sổ lớp học, Tiểu Chi đang ngâm đoạn “Lỡ nhau suốt đời” của Tiết Bảo Thoa trong “Khúc Kim Lăng Thập nhị thoa”.

“Trò Tư Vọng.”

Cô đột ngột điểm danh, cậu thiếu niên thảng thốt đứng dậy: “Em không ngủ gật ạ.”

“Tôi muốn hỏi em, nghe nói em đã đọc xong “Hồng Lâu Mộng”, vậy em thích nhất nàng nào trong Kim Lăng thập nhị thoa?”

“Bài “Lỡ nhau suốt đời” vừa rồi tuy người thở than là Tiết Bảo Thoa, nhưng cũng có liên quan đến Lâm Đại Ngọc – “nàng tiên nữ cô đơn đứng ngoài thế sự”. Người đời thường thương tiếc Đại Ngọc, tán tụng Bảo Thoa, nhưng em thích nhất chính là Tần Khả Khanh gợi cảm của Thiên Hương lầu, giấc mộng xuân của Giả Bảo Ngọc trong hồi thứ năm là mơ trên giường của Tần Khả Khanh mà.”

Tiểu Chi ho khan hai tiếng, dù gì thì ngồi đây toàn là trẻ vị thành niên, cậu vẫn thản nhiên không chút kiêng dè nói tiếp: “Thực ra, e rằng “Thần tiên tỉ tỉ” trong giấc mơ của Bảo Ngọc chính là hóa thân của Tần Khả Khanh, người chỉ dạy cho Bảo Ngọc ắt hẳn phải là một thiếu phụ hơn chàng ta nhiều tuổi.”

“Ừm, hoạt động của Câu lạc bộ văn học hôm nay dừng tại đây, các em có thể ra về.”

Ngày thứ sáu, học sinh đều mong ngóng được về nhà, chỉ trong nháy mắt, lớp học chỉ còn lại hai người Tiểu Chi và Tư Vọng.

“Tiểu Chi, sao lại không cho tôi nói hết?”

“Chúng đều là trẻ con, không cần nói nhiều vậy chứ.”

“Ừ nhỉ, chỉ có mỗi hai chúng ta là người trưởng thành thôi.”

“Nói gì vậy?” Cô đẩy nhẹ Tư Vọng một cái, “Có lúc tôi thực sự cảm thấy em không giống 17 tuổi chút nào.”

“Tôi đã 42 tuổi rồi, lớn hơn em bảy tuổi.”

Câu nói ấy làm mặt cô biến sắc: “Im ngay!”

Tư Vọng rời khỏi lớp học, về ký túc lấy cặp sách rồi ra cổng trường. Âu Dương Tiểu Chi đuổi theo phía sau: “Xin lỗi!”

“Không sao!”

Hai người sánh vai bước trên đường Nam Minh, bỗng nhiên cô nói: “Tư Vọng, tuần trước cô thấy trên màn hình di động của em có ảnh Trương Học Hữu trong liveshow năm 1995.”

“Ừm, năm đó em có đi xem.”

Biểu cảm trên mặt cô hơi kỳ lạ, ấp úng mãi mới nói: “Tối nay cũng có liveshow của Trương Học Hữu ở trung tâm thành phố, em có muốn đi không?”

“Ồ, cô có vé à?”

“Không có, nhưng có thể đến tận nơi mua vé chợ đen mà.”

“Em cũng không biết nữa… nhưng mà…”

Tiểu Chi ra vẻ như không có chuyện gì: “Em không rảnh hả? Hay là đã hẹn người khác rồi?”

“Không, em rảnh mà!”

Tư Vọng nhanh chóng gọi điện thoại cho mẹ, báo rằng tối nay cậu phải học thêm ở trường, hơn 11 giờ mới về nhà được.

“Em vẫn hay nói dối mẹ thế này sao?”

“Làm gì có! Mẹ em là người phụ nữ tốt nhất trên đời này! Cũng là người đẹp nhất!”

Hai người vừa nói vừa cười đi đến bến tàu điện.

Hoàng hôn của ngày cuối tuần, những chuyến tàu vào thành phố chật kín người, họ không tìm được chỗ ngồi, đành giữ móc vịn. Cũng may Tư Vọng cao to vạm vỡ, còn Tiểu Chi trẻ hơn rất nhiều so với tuổi thật, nên chẳng ai nghĩ rằng họ là cô và trò mà trông giống một đôi tình nhân chị – em hơn.

“Năm 1995, tôi phát hiện ra em chép lại lời một bài từ trên lớp học – Một mối tình si, hai chốn ngóng trông, viết ba bốn chữ, lệ đã năm sáu hàng, chỉ mong đêm mùng bảy được gặp trên cầu Ô Thước, được thần tiên tám hướng chứng giám uyên ương, nơi chín suối bồi hồi mười nhịp, cầu Nại Hà hận thật quá dài, ruột đứt thành trăm đoạn, ngàn muôn nỗi sầu, vạn sự bất đắc dĩ, khiến lòng đau não nề.”

Tư Vọng đọc thuộc hết bài từ dì Quỳnh Dao viết trên phim truyền hình. Những năm đó người ta hâm mộ loạt phim “Ba cành hoa mai” của Quỳnh Dao, trong đó có bộ “Người chồng ma” – một câu chuyện về thoát xác nhập hồn. Nhân vật nữ chính tưởng rằng người đàn ông cô yêu sâu đậm đã qua đời, không ngờ mấy năm sau hồn ma của chàng vẫn có thể chuyện trò với cô qua thư từ, âm nhạc, khiến cô tin chắc rằng trên đời này thực sự có ma.

Cầu Nại Hà hận thật quá dài – Tôi chỉ nhớ được mỗi một câu này.”

Tiểu Chi cũng không còn kiêng kị gì nữa, những hành khách xung quanh đều có thể nghe thấy, lời cô nói chốc chốc lại bị nhấn chìm bởi những tiếng ồn. Tàu điện đã vào bên nhà thi đấu nằm ngay trước sân vận động diễn ra liveshow, họ tới cửa hàng tạp hóa mua chút đồ ăn rồi mới vào. Cô chọn các món Quan Đông, trứng kho lá trà và bánh mì cắt lát. Trước sân vận động người đã đông nghìn nghịt, đầu chen đầu nhấp nhô, Tiểu Chi mua được hai tấm vé vào cửa từ bọn phe vé, vị trí rất đẹp. Họ theo dòng người xô đẩy tiến vào bên trong, tiện đường mua luôn gậy phát sáng cổ vũ, cô nói to vào tai Tư Vọng: “Phải mười năm rồi tôi chưa xem liveshow ca nhạc!”

“Tôi thì là mười bảy năm!”

Cậu gần như phải dán sát vào tai, cô mới nghe rõ.

Bước vào sân vận động hoành tráng đông nghẹt, nhìn thấy sân khấu ánh sáng huy hoàng rực rỡ, Tư Vọng lúc này mới hò hét giống học sinh cấp 3 – đồng thời bên cạnh cậu, Tiểu Chi 35 tuổi cũng đang hò hét đến mức chính cô còn lấy làm ngạc nhiên, bởi đây là lần đầu tiên cô cười sảng khoái, si tình đến thế.

Danh ca diện trang phục biểu diễn rực rỡ lóa mắt xuất hiện trên sân khấu. Bài đầu tiên anh hát là “Lý Hương Lan”, rồi tiếp đó là “Tôi bị thương thật rồi”. Âu Dương Tiểu Chi cũng huơ gậy sáng theo điệu nhạc, giữa những khán giả hâm mộ điên cuồng xung quanh, cô hóa thành một cô gái hơn 30 tuổi tươi trẻ mà Tư Vọng ít có dịp trông thấy. Còn cậu thì trông cực kỳ giống fan của AKB48, cậu cất giọng mạnh mẽ của tuổi thiếu niên hát theo những bài ca của Trương Học Hữu, Tiểu Chi lè lưỡi làm mặt quỷ trêu chọc cậu.

Cảm giác được có cánh tay vòng sau lưng mình, chỉ cần siết chặt thêm chút nữa thôi là có thể chạm vào tận xương, nhưng cô không chống cự mà còn nghiêng người dựa sát hơn vào người cậu. Mùi hương từ mái tóc Tiểu Chi xộc vào mũi, vài sợi tóc dài dính lên mặt cậu, chẳng khác gì những sợi dây tơ quấn chặt lấy cổ cậu.

Những ca khúc trên sân khấu vẫn đang tiếp tục, “Lòng đau như dao cắt”, “Có em đồng hành”, “Tôi đợi đến khi hoa cũng tàn”…

Gần hai tiếng đồng hồ sau, gương mặt cô đã hồng rực như chiếc túi giữ ấm, dính chặt vào cằm và tai Tư Vọng.

“Nàng đến buổi biểu diễn của tôi, mối tình đầu năm 17 tuổi, lần đầu tiên hẹn hò, chàng trai vì nàng xếp hàng suốt đêm, tiết kiệm nửa năm trời mới đủ tiền mua đôi vé. Tôi hát làm tim nàng tan nát, tôi hát làm tim nàng tan nát…”

Cơn gió thu thổi tung tóc Tiểu Chi, cô giữ chặt lấy cổ Tư Vọng, dụi đầu vào lồng ngực vững chãi của cậu. Phải chăng cô không muốn ai thấy mình đang rơi lệ? Hay không dám nghe lời ca đẫm nước mắt trên sân khấu? Cô ôm chặt cậu thiếu niên đến mức cậu không hít thở được chút không khí nào khác ngoài hương tóc cô.

Cuối cùng, nam ca sĩ đã đặt dấu chấm hết cho đêm nhạc hôm nay bằng ca khúc “Nụ hôn tạm biệt.”

Cô buông Tư Vọng ra, lau khô nước mắt trên mặt cậu, khắp bốn bề vang vọng tiếng ca hòa theo sân khấu “Cái đêm cuồng loạn mà tôi và em hôn tạm biệt ấy”. Bờ môi của cậu thiếu niên ghé sát lại, rồi bỗng dừng ở khoảng cách hai cen-ti-mét, cứng đờ như hai pho tượng điêu khắc. Bài hát kết thúc mà cậu vẫn chưa hề chạm đến môi cô.

Lúc này cô mới nói ra câu đầu tiên trong suốt buổi biểu diễn: “Em, không phải là Thân Minh.”

Nửa tiếng sau, đoàn người trong sân vân động đã về gần hết, chỉ còn lại Tiểu Chi và Tư Vọng ngồi giữa những hàng ghế vắng tanh, dưới chân rải đầy tàn tích của những cây gậy phát sáng, chai nước và túi đồ ăn vặt. Nhìn lên những người công nhân đang thu dọn thiết bị chiếu sáng trên sân khấu, cô tựa đầu vào vai cậu, mềm mại nói: “Này!”

“Muốn nói gì à?”

“Tôi… cũng không biết nữa.”

Cậu cởi áo khoác ra choàng lên đùi cô: “Cô lạnh à?”

“Một chút thôi.”

Cô khép mắt lại, hít sâu mấy hơi: “Em có biết không, năm năm nữa thôi là tôi sẽ 40 tuổi.”

“Lúc đó, tôi cũng 47 tuổi rồi.”

Cô cười ảo não, lắc đầu, mở mắt ra nhìn bầu trời mùa thu.

Đêm khuya. Mười giờ.

Gió muộn ngang ngược gào thét, một phiến lá khô rơi xuống mặt cô.

Âu Dương Tiểu Chi nhặt chiếc lá, thật không ngờ cô đưa lên miệng cắn nát: “Khi em mải miết cúi đầu đi trên đường, đừng quên ngẩng lên nhìn trời sao nhé.”

Mãi sau cậu vẫn chưa đáp lại, rồi cô đứng lên nói: “Về nhà thôi nào, trò Tư Vọng.”

Chương 18

Hai ngày sau

Sáng thứ hai, Tiểu Chi lên lớp dạy ngữ văn như thường, không nhìn Tư Vọng nhiều thêm một cái, cô cũng không chủ động tìm cậu trò chuyện. Buổi chiều thì khác, nữ sinh bắt đầu túm năm tụm ba rủ rỉ thầm thì, nam sinh cũng tụ tập nói cười ha hả, tất cả mọi người đều nhìn Tư Vọng với ánh mắt kỳ lạ, trong ánh mắt ấy có sự chế nhạo, ngưỡng mộ và ghen tị. Cậu bực tức túm lấy một anh chàng, nhờ sự uy hiếp của nắm đấm thép mới biết được rằng, trong buổi biểu diễn thứ sáu tuần trước của Trương Học Hữu, có bạn lớp bên cạnh cũng đi xem, và tận mắt chứng kiến cậu cùng với cô giáo Âu Dương ám muội dựa dẫm vào nhau. Tin tức này lan ra trong trường nhanh như chớp, khiến cho hàng trăm học sinh của cả ba khóa hứng khởi chẳng khác gì xem vụ bê bối của Trần Quán Hy.

Âu Dương Tiểu Chi nghe được chuyện này từ những lời xì xào của các thầy cô khác, có cô giáo tuổi trung niên thấy cô đi ngang qua, cố ý nói to lên: “Học sinh bây giờ cũng to gan lớn mật lắm cơ, dám yêu đương với cả cô giáo cơ đấy. Có phải là xem nhiều phim người lớn Nhật Bản không nhỉ? Chậc chậc, nghĩ thôi mà cũng thấy tởm rồi.”

Suốt cả tuần, sắc mặt của Âu Dương Tiểu Chi đều trắng bệch, giờ lên lớp cũng lơ đễnh rồi nhanh nhanh chóng chóng kết thúc, không còn học sinh nào tới tìm cô nữa, cứ như thể trên người cô mắc bệnh truyền nhiễm, bị toàn thế giới tự động cách ly. Tư Vọng cũng không nói một lời, cứ thế đi lướt qua nhau trên hành lang, cúi đầu tránh sang một bên. Mỗi ngày hết giờ dạy cô đều về nhà sớm, dẫu biết rằng Tư Vọng vẫn trốn trong bụi trúc đào nhìn theo bóng dáng cô rời khỏi cổng trường. Chỉ có thầy An vẫn bám theo cô, nhưng bị Tiểu Chi lạnh lùng từ chối, khiến cho gã nổi điên đạp cả vào cây cổ thụ.

Nhiều tiết chính trị sau đó, thầy An luôn đột ngột gọi Tư Vọng đứng lên trả lời những câu hỏi cực kỳ hóc búa. Ngày thứ sáu, anh ta chỉ vào mũi Tư Vọng hỏi: “Trên đời này rốt cuộc có ma quỷ hay không? Nếu trong lòng em có ma quỷ thì chủ nghĩa duy vật còn có nghĩa lý gì?”

Đúng là một câu hỏi của kẻ tâm thần rối loạn! Nhưng đám học trò ngồi đó đều ngầm hiểu rằng “trong lòng có ma quỷ” ám chỉ điều gì.

Tư Vọng không chút sợ hãi nhìn thẳng vào mắt anh ta: “Trên đời này có ma quỷ! Đừng nói chỉ trong lòng em có ma quỷ, trong lòng thầy cũng có ma quỷ, trong lòng mỗi người ngồi đây cũng đều có ma quỷ! Chẳng qua mọi người không nhìn thấy được con quỷ đó, còn em lại có thể cảm nhận được, nhìn thấy được nó một cách chân thực. Con quỷ ấy đang bò trên vai mỗi người, mỗi ngày mỗi đêm, mỗi giờ mỗi phút đều đang nhìn tất cả mọi người!”

Cậu vừa dứt lời thì cả lớp rộ lên. Sắc mặt thầy An cũng lúc xanh lúc tím, anh ta không kìm được cơn giận, cầm roi vụt chan chát vào mặt bàn học của Tư Vọng, gào lên điên cuồng: “Cái thằng du côn oắt con, mau cút ra khỏi đây cho tôi!”

Cậu cứ thẳng lưng đứng đó, không chút run sợ đáp lời: “Xin lỗi thầy, thầy không có quyền đó.”

“Cậu không đi? Vậy thì tôi đi!”

Thầy An quẳng sách xuống, đập cửa cái rầm rồi đi.

Học trò trong lớp ồ lên như ong vỡ tổ, Tư Vọng có vẻ bình tĩnh ngồi xuống, nhưng thực ra toàn thân cậu đang run rẩy.

Mấy phút sau, thầy chủ nhiệm Trương Minh Tùng gọi cậu vào văn phòng, mắng cho cậu một trận đầu rơi máu chảy, bắt cậu đi xin lỗi thầy An, Tư Vọng lắc đầu nói: “Trên lớp thầy giáo đặt câu hỏi cho em, em chỉ nói ra những lời thật lòng, vậy là có lỗi ư?”

“Tư Vọng, em thực sự cho rằng trên đời này có ma quỷ phải không?”

“Có một con quỷ luôn luôn ẩn nấp trên người em.” Tư Vọng lộ ra vẻ mặt của người đàn ông trung niên, “Thầy Trương, thầy có tin không?”

Dường như ông giáo sắp bước sang tuổi ngũ tuần giật mình: “Thực ra tôi không cứng nhắc như các em tưởng đâu, nhiều năm trước tôi đã luôn quan tâm đến triết học và tôn giáo, thậm chí là các hiện tượng kỳ lạ trong tự nhiên, bao gồm cả ma quỷ.”

“Em biết.”

Tư Vọng chỉ vào giá sách sau lưng thầy giáo. Vẻ mặt Trương Minh Tùng bỗng trở nên kỳ quái: “Nếu như trên người em thực sự có nơi nào đó đặc biệt thì tôi rất vui lòng được chia sẻ kinh nghiệm với em – với tư cách thầy giáo chủ nhiệm, tôi bảo đảm sẽ không nói cho ai khác biết. ”

“Xin lỗi thầy, em chỉ tiện miệng nói vậy thôi, đấy chỉ là thế giới quan của em thôi thầy ạ.”

“Thôi được, nhưng tôi tin, em là người có bí mật. Nhất định tôi sẽ khui ra bí mật đó của em, chụp ảnh lưu lại.”

“Thầy Trương, em đã có thể về chưa ạ?”

“Em đi xin lỗi thầy An đi, tôi sẽ không truy cứu chuyện này thêm nữa”.

Nhưng Trương Minh Tùng từ đầu đến cuối đều không nhắc tới Âu Dương Tiểu Chi, muốn giữ lại thể diện cho cô giáo.

Đêm khuya hôm đó, cô vừa nằm lên giường đã nhận được tin nhắn của Tư Vọng: “Xin lỗi! Tôi đi xin lỗi thầy An rồi, nói rằng trong buổi biểu diễn đó tôi tình cờ gặp được cô, cô bị ngã nên tôi đỡ cô dậy, khiến cho bạn học hiểu lầm là chúng ta dựa sát vào nhau.”

Âu Dương Tiểu Chi siết chặt chiếc điện thoại, dường như muốn bóp vỡ màn hình, nửa tiếng sau mới trả lời: “Trò Tư Vọng, xin nhớ kỹ rằng dù có gặp phải chuyện gì, cũng không cần ép mình phải nói dối!”

“Tiểu Chi, cả cái trường này đều đang nhằm vào chúng ta, ì xèo xôn xao hết cả lên rồi, thật không biết phải làm sao nữa?”

“Mặc kệ bọn họ! Càng không cần phải vì thế mà xao nhãng việc học hành, cậu phải học tập chăm chỉ, nghe lời thầy cô nhé!”

“Cô đã bao giờ thích tôi chưa?”

Nhận được tin nhắn này, Tiểu Chi không hồi âm, để cho chàng trai trẻ suốt đêm không ngủ.

Chương 19

Tháng mười một, không khí đã sắp đông lại thành băng rồi.

Thân Mẫn đã lên lớp 11, gần đây cô đọc một cuốn sách rất cảm động có tên là “Hình hài yêu dấu” của nữ tác giả người Mỹ. Cuốn sách khiến cho người đọc phải rơi lệ. Câu chuyện kể về linh hồn của một cô bé sau khi chết cứ luôn bay lượn ở chốn nhân gian, quan sát kẻ giết người và những người thân trong gia đình mình. Bố cô đã không còn làm kiểm sát từ lâu rồi, hàng ngày ở nhà vẫn cực kỳ nghiêm nghị. Có một chuyện Thân Mẫn không dám nói cho bố biết, đó là cô đã yêu rồi.

Cậu con trai đó học ở một trường cấp 3 khác, từ trước tới giờ chưa bao giờ thấy cậu mặc đồng phục, cậu cắt mái tóc trông rất ngầu, y như các ngôi sao Hàn Quốc hay nhảy nhót trên ti vi. Cậu đã đổi đến vài chiếc di động Iphone, nói chuyện cũng rất biết lấy lòng các cô nữ sinh chưa hiểu chuyện đời. Tóm lại, theo cách nói hiện đại bây giờ là, chẳng qua cũng là loại chỉ cần vài câu là xin được số điện thoại, ăn vài bữa cơm là có thể lừa lên giường – May mà Thân Mẫn chưa đi đến bước này.

Hai đứa thường gặp nhau ở quán canh cay bên vệ đường, bên cạnh là trường cấp 2 Mùng 1 tháng 5, đối diện là một tiệm sách nghèo nàn. Thân Mẫn ăn mặc càng thêm xinh đẹp, mặc đồng phục cười tươi rói, mặt mày xinh đẹp hớn hở.

Cuối tuần, hai người đi rạp xem phim Tết, buổi tối nắm tay nhau ra khỏi rạp, cậu nam sinh cắn vào tai cô nữ sinh bảo: “Tiểu Mẫn mệt chưa? Chúng mình tìm nhà nghỉ nào đó nghỉ ngơi chút xíu nha?”

Cô đã không còn là cô bé con nữa, lập tức đổi sắc mặt: “Không!”

“Được thôi, vậy em về nhà sớm đi, đừng để bố lo!”

“Tạm biệt!”

Thân Mẫn vẫn còn hơi lưu luyến, vẫy tay tạm biệt rồi bước lên xe bus.

Cậu con trai đứng yên tại chỗ, gọi một cuộc điện thoại, rồi đến cửa hàng tạp hóa mua một bao thuốc lá, ngậm trên miệng hít hà rồi thở ra những vòng khói trắng. Cậu ta hút liên tục bốn năm điếu, còn trước mặt Thân Mẫn thì tuyệt nhiên không động đến một điếu nào. Rất nhanh sau đó có một cô bé chạy tới, cũng là nữ sinh cấp 3 như Thân Mẫn, trang điểm có phần rực rỡ hơn cô, nhưng tư sắc thì kém hơn rất nhiều. Cậu chàng ngang nhiên ôm cô ta vào lòng, ngạo ngược nhả khói trêu chọc, hôn vào môi cô nàng mấy cái liền rồi đi thẳng sang nhà nghỉ cạnh đó thuê phòng. Đến gần 12 giờ đêm, hai đứa mới trở ra, cậu chàng mồm ngậm điếu thuốc đi liêu xiêu, tay vẫn còn vung vẩy lon bia, đường phố gần như vắng bóng người, đột nhiên có một chàng thiếu niên xông tới.

Đôi mắt Tư Vọng tóe lửa đáng sợ: “Ê! Đứng lại!”

“Mày là ai?” Cậu chàng nhả ra một vòng khói: “Cút!”

Cô gái miệng cũng nồng nặc mùi bia: “Đồ thần kinh!”

“Này cô, nếu cô không muốn gặp rắc rối thì nên về nhà sớm đi.”

Dưới ánh đèn đường tăm tối, cậu gỡ mẩu thuốc lá trên miệng gã trai xuống, cô nàng kia cũng không phải kẻ kém thông minh, chỉ trong chớp mắt đã mất tăm mất dạng.

“Muốn chết hả mày!”

Gã trai hung hăng đẩy cậu một cái, Tư Vọng vẫn sừng sững đứng yên tại chỗ chẳng khác gì bức tường đá.

“Tao không muốn ra tay với mày, chỉ muốn cảnh cáo mày, đừng bao giờ gặp lại Thân Mẫn nữa.”

“Hừ, mày là bạn học của Tiểu Mẫn hả? Thầm yêu cô ấy không dám nói nên ngày nào cũng chơi trò theo dõi chứ gì, đúng là đồ bún thiu tội nghiệp!”

“Tao là anh trai cô ấy, còn nữa, cấm mày gọi cô ấy là Tiểu Mẫn!”

Cái gã ngựa non háu đá không biết sống chết ấy lao vào đấm cậu một quyền, Tư Vọng nhẹ nhàng dùng tay trái đỡ lấy, tay phải đáp trả lại bẳng một cú đấm thẳng mặt, trúng ngay sống mũi. Cùng với máu phun ra từ mũi, gã trai ngã sõng xoài trên đất, rồi vẫn hăng tiết vịt bò dậy, cậu kỷ niệm hắn một cú móc hàm, bồi thêm liên tiếp một cú đấm xoáy, đồ ăn thức uống trong bụng gã cứ thế nôn ra bằng hết. Giờ gã chỉ còn chút hơi tàn để xin tha mạng, may mà Tư Vọng còn chưa dùng đến chân, nếu không e rằng sẽ đánh gã nằm viện mấy ngày.

“Nhớ rõ chưa? Nếu còn để tao thấy mày léng phéng cạnh cô ấy nữa… thì mày biết rồi đấy!”

Có người qua đường trông thấy nhưng họ cũng rảo bước thật nhanh, chẳng ai dám dây dưa vào những vụ xô xát thế này. Tư Vọng nhanh chóng bỏ đi, tránh đụng độ cảnh sát. Từ đó về sau, gã khốn kiếp đó biến mất khỏi thế giới của Thân Mẫn.

Chương 20

Nếu còn có ngày mai, em muốn trang điểm thế nào? Nếu không có ngày mai, em muốn từ biệt ra sao?”

Có đôi khi cô cảm thấy – bài hát này chính là đoạn nhạc cuối cùng lướt qua đầu thầy giáo Thân Minh vào cái thời khắc thầy bị giết vào lúc 10 giờ đêm ngày 19 tháng 6 năm 1995.

Ngày 21 tháng 12 năm 2012.

Ngày tận thế theo lịch của người Maya.

Nửa đêm, trên đỉnh tòa nhà ba mươi tầng bao quát được gần một nửa thành phố, ngoài cửa sổ không khí đã gần đóng băng. Chiếc điện thoại Samsung của cậu nam sinh vang lên khúc nhạc “Nếu còn có ngày mai”, nhưng đã không còn là bản gốc năm 1990 nữa, mà là bản hát lại của Tín và Tiết Nhạc. Tiểu Chi ngồi xếp bằng trên bậu cửa sổ, không ngừng hà hơi thổi khí nóng lên lớp cửa kính, tạo ra những vòng bóng trắng mờ ảo. Cậu chạm đầu ngón tay vào những chiếc bóng trắng ấy, vẽ ra hình dáng một chú mèo, rồi lại đeo thêm mắt kính cho chú mèo ấy.

“Trò Tư Vọng, đừng có nghịch.”

Cô lại tặng cho tấm kính thêm một vòng khí trắng, nháy mắt nuốt mất chú mèo.

“Tôi là Thân Minh.”

“Đêm nay, tôi để cậu đến đây, không liên quan gì đến Thân Minh cả.”

Đây là căn hộ mà Âu Dương Tiểu Chi thuê để sống một mình, căn hộ nhỏ có một phòng khách và một phòng ngủ được sắp xếp rất sạch sẽ, ngăn nắp.

Nhiều ngày rồi họ chưa nói với nhau câu nào, dù có gặp trên lớp cũng chẳng thể bốn mắt nhìn nhau. Sớm hôm nay, cô nhận được tin nhắn của Tư Vọng: “Tiểu Chi, tôi muốn gặp em, nếu vẫn còn có ngày mai?”

Đúng vào ngày thứ sáu, Tiểu Chi chần chừ mãi đến chiều muộn, khi sắc trời đã tối mịt như lúc nửa đêm, mới gửi cho cậu địa chỉ nhà. Đêm nay không chỉ là ngày tận thế, mà còn là ngày đông chí, ngày mà bán cầu Bắc có đêm dài nhất và ngày ngắn nhất trong năm. Những năm trước đây, vào ngày này người ta phải đi viếng mộ, đốt vàng mã cho thân nhân và tổ tiên. Tương truyền rằng đó là ngày âm khí nặng nề nhất, khi đêm xuống ma quỷ thường xuất hiện, người sống phải nhanh chóng về nhà.

Tư Vọng nhận được tin nhắn thì không về nhà nữa, giữa đường cậu chuyển tàu, tắt chế độ nghe gọi của điện thoại rồi đến thẳng căn hộ trên tầng 30 này.

“Sáng nay thầy giáo chủ nhiệm của cậu tìm tôi nói chuyện, yêu cầu tôi đừng có thêm bất cứ tiếp xúc riêng tư nào với cậu nữa, dù là ở trong phòng giáo viên cũng không được.”

“Trương Minh Tùng ấy à?” Ngón tay Tư Vọng vẽ ra một chú chó trên vòng khí trắng cửa sổ. “Dựa vào đâu mà ông ta đòi hỏi vậy?”

“Chiều nay hiệu trưởng cũng tìm tôi, nói ra những lời y hệt, đây là quyết định mà đảng ủy nhà trường đưa ra sau khi thảo luận.”

“Ai cũng nói vậy sao?”

“Tất cả các giáo viên và học sinh. Mẹ cậu sẽ nhanh chóng biết chuyện thôi.”

Cô lại cúi người xuống thổi thêm một vòng sương trắng nữa trên cửa sổ: “Nếu đêm nay là tận thế thì tốt biết bao, xin lỗi, đây không phải là lời của một giáo viên cấp 3 nên nói nhỉ.”

“Tiểu Chi, đã nhiều năm vậy rồi mà sao em vẫn chưa kết hôn? Chắc chắn có rất nhiều người đàn ông theo đuổi em phải không? ”

“Cậu muốn tôi trả lời thế nào? Muốn tôi nói rằng tôi vẫn không thể nào quên được thầy Thân Minh? Cắn rứt vì cái chết của anh ấy? Cậu sai rồi, đối với đám con trai con gái 17, 18 tuổi, như thế đâu có tính là gì?”

“Em nói dối!”

Âu Dương Tiểu Chi véo mũi cậu, như thể cậu là học sinh tiểu học vậy: “Khi nào em đến tuổi của tôi sẽ hiểu.”

“Đừng quên là tôi lớn hơn em bảy tuổi đấy.”

“Im miệng…”

Còn chưa kịp dứt lời thì Tư Vọng đã ngấu nghiến hôn vào bờ môi cô.

Sau những giây giãy giụa và phản kháng ngắn ngủi, Tiểu Chi dần trở nên mềm mại, cậu thở hổn hển nói: “Xin lỗi!”

“Tôi từng cảnh cáo em rằng – bất kỳ người đàn ông nào đến quá gần tôi đều sẽ phải chết!”

Môi cô vừa bị Tư Vọng cắn mạnh, giờ đang rướm máu, khi nói ra những lời ấy trông cô giống nữ quỷ hút máu đến lạ kỳ.

“Có thể cho tôi biết nguyên nhân không?”

“Thực ra, Tiểu Chi là cái tên mà tôi tự đặt cho mình.”

“Tên là gì không quan trọng, giống như tôi, vừa là Tư Vọng, vừa là Thân Minh.”

“Em… vốn là một đứa con rơi, được người ta nhặt về từ thùng rác bên bờ sông Giang Tô. Em không biết bố mẹ mình là ai, cũng không biết mình sinh ngày nào, càng không biết bắt đầu từ khi mấy tuổi em đã theo những người lang thang phiêu bạt khắp nơi, bữa no bữa đói, cho đến năm gần 11 tuổi mới tới khu ổ chuột đối diện trường cấp 3 Nam Minh. Em giúp người ta nhặt rác kiếm sống, sống trong một thế giới bị tất cả mọi người coi thường. Vì quá đói, em lén lấy trộm một cái đùi gà, bị đám bạn học của anh nhốt trong khu Ma nữ, nếu không phải được anh cứu ra, thì sợ rằng giờ đã trở thành nắm xương khô nằm vùi dưới ba tấc đất rồi.”

“Đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ gương mặt của em khi đó.”

Tiểu Chi tựa đầu lên kính cửa sổ, nhìn cô như đang trôi dạt giữa thinh không: “Lúc đó đến tên em còn không có! Thế nhưng, khi bị nhốt mấy ngày dưới lòng đất, em mãnh liệt khao khát được sống, cũng vô cùng cảm kích anh đã cứu mạng mình. Thế nhưng, khi em quay về giữa đám người lang thang, tiếp tục sống những ngày vùi đầu trong thùng rác bẩn thỉu, nuốt những chiếc bánh bao vừa cứng vừa lạnh, thỉnh thoảng lại bị đánh, em bắt đầu oán hận anh tại sao lại cứu em, cứ để em lẳng lặng chết đi có phải là tốt biết mấy, như thế tất cả khổ đau sẽ tiêu tan.”

“Em muốn chết – cho nên mới…?”

“Xin lỗi! Trận hỏa hoạn đó là do em gây ra đấy! Chính em đã dùng một que diêm đốt cháy thùng rác trong một ngôi nhà, em chỉ muốn nhốt mình lại rồi tự kết thúc, không ngờ được rằng vẫn còn người khác trong đó. Em chỉ mới 11 tuổi, quá ngây ngô, quá ngu xuẩn, không biết ngọn lửa sẽ lan ra, chớp mắt đã không thể kiểm soát được, rồi thiêu cháy tất cả khu nhà ổ chuột ấy…”

Cô nhắm mắt, nước mắt chảy thành hàng rơi xuống cằm, tựa như lại một lần nữa bị thiêu đến bỏng rát.

“Đó là tháng 6 năm 1988, tối đó tất cả bạn học của tôi đều chạy ra, xe cứu hỏa không tới kịp, tôi nghe thấy trong đám lửa có tiếng kêu cứu không ngừng, bèn liều mạng xông vào – thực ra, tôi không tới để cứu em, mà chỉ là muốn xông vào đó mà thôi, giả bộ muốn cứu người, bị lửa thiêu rụi cũng hay đấy chứ.”

“Anh không sợ bị chết cháy ư?”

“Tôi không sợ, vì chỉ còn vài tuần nữa thôi là đã thi đại học rồi, em phải biết rằng năm đó thi đầu vào đại học khó khăn đến mức nào, huống hồ ngành tôi đăng ký lại là khoa Trung văn trường Đại học Bắc Kinh, hàng chục nghìn học sinh ưu tú cả nước tranh giành nhau một suất. Thời khắc đối mặt với ngọn lửa ngút trời đó, tôi nghĩ, nếu có thể liều thân vì nghĩa, dù chỉ cứu được một người, có lẽ cũng sẽ giành được cơ hội tiến cử vào trường. Thực ra, tôi mới là kẻ ích kỷ nhất! Những tháng ngày học lớp 12, mỗi ngày tôi đều mơ tưởng đến trận hỏa hoạn khủng khiếp đó, hoặc bất ngờ có một trận lũ lụt nào đó khiến thầy trò cả trường rơi vào nguy hiểm, có vậy tôi mới có thể liều thân cứu người, mới được toàn thành phố biểu dương… người nên nói xin lỗi, phải là tôi.”

“Không, anh đã cứu em, còn em đã châm lửa thiêu chết biết bao người, kể cả những người lang thang đã nuôi em lớn lên, em là thủ phạm giết người, ít nhất cũng là thủ phạm phóng hỏa. Nhưng em chưa từng nói ra bí mật này.”

Cậu nhìn xuống chúng sinh vần vũ giữa này tận thế dưới kia, cười ảo não: “Tôi đã sớm biết bí mật của em rồi – khi tôi cứu em ra khỏi đám cháy, trên người em có một bao diêm đã cháy hết một nửa, tôi lén giấu nó vào túi quần mình. Những lời em nói với tôi khi đó, cùng với ánh mắt sợ hãi, đã đủ cho tôi biết chân tướng sự việc.”

“Tại sao anh không nói ra?”

“Tôi không muốn thấy cuộc đời em bị hủy hoại! Và còn cả lý do ích kỷ của tôi nữa, nếu em không phải là người bị hại mà chính là người phóng hỏa, thì tôi cũng chẳng có chút nghĩa khí nào khi cứu em đâu – ai sẽ trao vinh dự vì nghĩa quên mình cho kẻ đã cứu thủ phạm đốt nhà cơ chứ?”

Tiểu Chi đồng bệnh tương lân vuốt ve cằm cậu: “Thầy Thân, em còn nhớ mười bảy năm trước, trên cánh đồng hoang ở đường Nam Minh, thầy đã nói với em rằng: “Chúng ta là cùng một loại người”.”

“Giống như hai ngôi sao băng, cùng một lúc từ khung trời xa xôi bay tới hành tinh xanh, cùng lúc xuyên qua tầng khí quyển, thiêu đốt tất cả tan tành thành tro bụi.”

“Thân Minh, em vẫn muốn cảm ơn anh đã cứu em. Sự việc đó đã khiến công chúng chú ý, có người báo cáo về cậu học sinh cấp 3 cứu người, cũng có người quan tâm đến cô bé khổ sở côi cút. Có người sĩ quan nhận em về nuôi, vì vợ ông ấy không thể sinh con được. Em trở thành con gái của quân nhân, ít nhất không phải lo cái ăn cái mặc, lần đầu tiên em được mặc quần áo mới, mỗi buổi tối đều được ăn cơm trắng, không còn phải chịu đựng ánh mắt khinh khi và chán ghét. Chính vào ngày thứ ba mà em được về nhà mới, bố nuôi liền bị triệu tập khẩn cấp ra chiến trường, lần tiếp theo mà em được gặp ông ấy, thì chỉ có thể thấy thi hài liệt sĩ của ông ấy mà thôi.”

“Tiểu Chi, tôi không cần biết những chuyện đó.”

Cô cứ như đang tự độc thoại với không khí: “Từ đó về sau, mẹ nuôi bắt đầu xa lánh em. Bà cảm thấy cái đứa con hoang thoát chết từ đám cháy đã mang đến cái chết của chồng bà ấy. Nhưng dù sao đi nữa bà ấy cũng là vợ của quân nhân, nhận được rất nhiều tiền trợ cấp, còn em trở thành con em liệt sĩ, được hưởng đủ mọi ưu đãi. Em bắt đầu có cơ hội học tập từ đầu, trường tiểu học Bát Nhất phá lệ gọi em nhập học. Em học hành rất chăm chỉ, rất cố gắng, chỉ vài năm đã được nhảy lớp mấy lần, nhanh chóng đuổi kịp các bạn cùng trang lứa, rồi em thi vào trường điểm của thành phố. Sau đó, vì có những tên khốn bám theo em, đang yên đang lành chạy đến cổng trường tán tỉnh nên em bị ép chuyển đến trường Nam Minh.”

“Sau đó, chúng ta gặp lại nhau.”

“Em không nghĩ rằng anh lại nhận ra em.”

“Sao có thể quên được? Năm 1988, cô bé gặp lần đầu tiên trong hầm ngầm khu Ma nữ giữa đêm khuya, lần thứ hai giữa đám cháy trên đường Nam Minh. Dù sáu năm sau em lớn lên thành một thiếu nữ xinh đẹp, biến thành một người hoàn toàn khác – chỉ trừ ánh mắt.” Cậu nhẹ nhàng vuốt ve khóe mắt ẩn hiện hai nếp nhăn của cô. “Tôi biết em là thủ phạm phóng hỏa, từng châm lửa thiêu chết bao nhiêu người, nhưng em không cố ý làm vậy.”

“Nếu như bí mật này bị người khác biết, có lẽ em sẽ phải vào tù, và số phận sẽ không giống như ngày hôm nay.”

“Liễu Mạn đã biết rồi.”

Âu Dương Tiểu Chi lắc đầu thở dài: “Em nên sớm đoán ra mới phải.”

“Ngày 5 tháng 6 năm 1995, chính vào cái đêm cô ấy bị giết, cô ấy một mình gọi tôi vào phòng tự học, nói cô ấy đã biết bí mật của tôi và em – cô ấy nói cô ấy là bạn thân nhất của em, nhưng đó chỉ là bề ngoài, thực ra cô ấy vô cùng ghen tị với em, vì có em tới mà cô ấy không còn là tâm điểm của sự chú ý nữa, đám nam sinh đều âm thầm để ý em, có lẽ là cả người cô ấy thích cũng vậy.”

“Mục đích mà Liễu Mạn tiếp cận, giả làm bạn thân nhất của em, thì ra là để tìm ra bí mật của em sao?”

“Tôi e rằng những tin đồn về em mà cả trường xôn xao đều do cô ấy cố ý tung ra. Liễu Mạn nói mấy ngày trước, cô ấy đã tra ra thân phận thực sự của em – thì ra em là được nhận nuôi năm 1988, chính là người may mắn sống sót sau trận hỏa hoạn năm đó, và người cứu em ra khỏi đám cháy đó, chính là tôi.”

“Những chuyện còn lại là do cô ấy tự tưởng tượng ra phải không?”

“Đúng vậy, Liễu Mạn đã nói ra suy đoán của cô ấy – chắc chắn thầy giáo thích Tiểu Chi, giữa tôi và em, giáo viên chủ nhiệm và học sinh, đã xảy ra quan hệ giữa nam và nữ, tất nhiên tôi một mực phủ nhận!”

“Thực tế thì giữa em và thầy nào đã có chuyện gì đâu, đến phòng của thầy em còn chưa bước vào một bước mà, phải không thầy Thân Minh?”

Vẻ mặt của cô khi nói ra câu ấy, không biết là vui mừng hay là nuối tiếc?

“Sáng ngày hôm sau, tôi phát hiện ra Liễu Mạn đã chết, tôi…”

Tư Vọng vẫn còn muốn nói điều gì, miệng đã bị tay Tiểu Chi bịt kín: “Đừng nói gì nữa.”

Rất lâu sau, cậu tránh thoát tay cô, nói: “Mười ba ngày sau, tôi cũng chết.”

“Năm 1995, là khoảng thời gian thế nào với em nhỉ? Sau khi thầy Thân Minh qua đời, em thi đỗ Đại học Sư phạm, sau khi tốt nghiệp liền đi dạy ở khu vùng sâu vùng xa khó khăn ở miền tây, bởi vì em cũng giống những đứa trẻ ở đó, đều có tuổi thơ đói ăn, thiếu mặc, và thất học.”

“Tôi không cần biết quá khứ của em, giờ đây chỉ còn lại một nghi vấn duy nhất, dù thế nào đi chăng nữa tôi cũng khó có thể hé răng, tôi sợ nếu như nói ra bí mật này, tôi sẽ vĩnh viễn biến mất trước mắt em.”

Âu Dương Tiểu Chi ôm mặt: “Em biết anh đang nghĩ gì? Ngày 19 tháng 6 năm 1995, tại sao em lại hẹn gặp anh lúc 10 giờ đêm ở khu Ma nữ? Tại sao anh lại bị người ta sát hại, mà em thì thất hẹn không đến? Lẽ nào chỉ là vì cơn mưa bão đó? Sau khi anh chết, tại sao em không nói gì với trường học và cảnh sát mà ngược lại, còn lừa dối tất cả mọi người?”

“Em vẫn có chuyện gì giấu tôi phải không?”

Cô không trả lời câu hỏi của Tư Vọng nữa mà quay đầu nhìn ra cửa sổ tầng 30, một đêm lạnh cắt da cắt thịt thế này, mênh mang đèn đuốc đô thị, chẳng qua cũng chỉ là hư ảo mà thôi. Chiếc điện thoại Samsung vẫn đang ngân lên tiếng nhạc chuông “Nếu thực sự có thể có ngày mai, liệu có thể làm xong hết những điều dang dở, liệu tất cả có tan biến như mây khói, nếu như không có ngày mai…”

Nửa đêm. Mười hai giờ.

Khi cậu tỉnh lại từ giấc mộng giết người liên tiếp thì đã là sáng sớm ngày 22 tháng 12. Rừng gang thép ngoài cửa sổ vẫn chưa hề suy suyển, chỉ có bầu trời đầy hoa tuyết bay bay.

Quả nhiên, vẫn còn có ngày mai.

Âu Dương Tiểu Chi đứng bên cửa sổ, mặc áo ngủ bằng vải bông, tóc xòa trên mặt, cô thẫn thờ nhìn thành phố chìm trong tuyết. Cậu đứng sau lưng cô, không dám ôm lấy bờ vai cô nữa, mà chỉ vùi đầu ngửi hương tóc cô.

Mùi hương.

Bỗng nhiên cô quay đầu lại nhìn vào mắt cậu thiếu niên, hai bờ môi chỉ cách nhau trong gang tấc, rồi cô khẽ lắc đầu: “Tư Vọng, xin cậu hãy về đi, mẹ cậu đang đợi cậu ở nhà.”

Cô đang đuổi cậu đi.

Cậu không còn nói câu “Tôi là Thân Minh nữa”, chỉ lẳng lặng mặc quần áo, trước khi khép cánh cửa lại, cậu ngoái nhìn cô lần cuối, cô tựa như sương như khói mơ hồ, chỉ chớp mắt thôi là tan theo mây khói.

Muốn từ biệt ra sao?

Tư Vọng bước trên nền tuyết lạnh băng, hứng lấy những bông hoa tuyết nhỏ như mẩu giấy vụn, thành phố sau ngày tận thế ấy lần đầu tiên khiến cho người ta cảm thấy thân thuộc, bước chân đạp tuyết cũng nhẹ nhàng bay bổng hơn rất nhiều.

Tới bờ sông Giang Tô, vẫn trên cây cầu Vũ Ninh ấy, cậu nằm bò trên lan can đọng đầy tuyết, ngắm nhìn dòng sông sinh tử cuồn cuộn chảy, vô số bông tuyết rơi xuống, chớp mắt tan ra thành nước…

Mặt trời lên, cậu quay lại ngôi nhà ở khu dân nghèo, mẹ cậu ngồi trước cửa, vừa mừng rỡ vừa kinh ngạc – Cả đêm Hà Thanh Ảnh không ngủ, hốc mắt thức trắng đêm đỏ au, như già đi vài tuổi.

“Con đã đi đâu thế?”

Đối diện với ánh mắt dữ dội của mẹ, Tư Vọng cởi áo khoác ngoài, rót một ly nước, mở tủ lạnh lấy chiếc bánh mì chống đói.

“Tư Vọng, mẹ đợi con cả một đêm, không dám gọi điện thoại cho thầy chủ nhiệm của con, sợ nếu ông ấy biết con nửa đêm không về ký túc xá sẽ phạt con. Mẹ đến sở công an báo cho cảnh sát Diệp Tiêu, anh ấy tìm con khắp thành phố, sau nửa đêm còn đến trường Nam Minh.”

Hà Thanh Ảnh điên cuồng túm lấy cổ áo cậu, gần như vò nát chiếc áo len mà cô tự tay đan cho con trai: “Nếu con không nói, mẹ sẽ chết cho con xem!”

“Con ở cùng với một người phụ nữ.”

Cuối cùng, cậu buông một câu trả lời nhẹ như không rồi ngồi xuống tiếp tục gặm bánh mì.

Mẹ cậu trợn tròn mắt kinh ngạc, sững sờ đứng hồi lâu rồi gọi một cuộc điện thoại: “Alo, thầy Trương phải không ạ? Xin lỗi ngày nghỉ còn làm phiền thầy thế này, tôi là mẹ của cháu Tư Vọng, tôi muốn báo với thầy, cháu Tư Vọng nhà tôi đêm qua cả đêm không về, nó nói nó ở cùng với một người phụ nữ.”

Từ đầu dây bên kia vọng lại giọng nói sắc sảo của Trương Minh Tùng, Hà Thanh Ảnh dán sát ống nghe vào tai, mấy phút sau mới trầm mặc cúp điện thoại, chậm chạp tiến đến trước mặt con trai, rồi giáng cho cậu một cái tát.

About admin information

Check more related posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *